EUDR mở cuộc đua truy xuất nguồn gốc nông sản Việt
Năm 2025, cà phê Việt Nam mang về gần 8,9 tỷ USD, riêng thị trường EU đóng góp 3,63 tỷ USD, tăng hơn 68% so với năm trước. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu giảm 14,4% dù sản lượng tăng, do giá giảm mạnh[1].
Đằng sau những con số kỷ lục là yêu cầu mới đang định hình hoạt động xuất khẩu nông - lâm sản. Dự kiến từ cuối năm 2026, mỗi lô cà phê, cao su hay đồ gỗ xuất sang châu Âu sẽ phải đi kèm dữ liệu về nguồn gốc nguyên liệu, trong đó có tọa độ của từng thửa đất và bằng chứng cho thấy khu vực sản xuất không liên quan đến phá rừng. Trong bối cảnh đó, các hệ thống chứng nhận bền vững như ISCC và RSPO ngày càng được doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quan tâm.
Khi lời cam kết suông không còn đủ
ISCC, viết tắt của International Sustainability and Carbon Certification, được thành lập tại Đức năm 2006, ban đầu tập trung vào nhiên liệu sinh học và sinh khối nông - lâm nghiệp. Hệ thống này đặt ra các yêu cầu về sản xuất bền vững, bảo vệ đất rừng và khả năng truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng.
ISCC hiện có nhiều hệ thống chứng nhận phục vụ các nhóm sản phẩm khác nhau. ISCC EU áp dụng cho nhiên liệu và sinh khối đáp ứng yêu cầu của thị trường châu Âu; ISCC CORSIA dành cho nhiên liệu hàng không bền vững (SAF); còn ISCC PLUS có phạm vi rộng hơn, áp dụng cho thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, hóa chất và bao bì có nguồn gốc sinh học hoặc tái chế, kể cả tại các thị trường ngoài EU[2].
RSPO, viết tắt của Roundtable on Sustainable Palm Oil, ra đời năm 2004 trong bối cảnh ngành dầu cọ tại Indonesia và Malaysia chịu nhiều chỉ trích liên quan đến phá rừng nhiệt đới. Từ năm 2008, RSPO xây dựng bộ tiêu chí đối với dầu cọ bền vững được chứng nhận (CSPO), bao gồm các yêu cầu về môi trường và quyền lợi người lao động. Để sản phẩm được chứng nhận RSPO, yêu cầu được áp dụng xuyên suốt chuỗi cung ứng, từ vùng nguyên liệu, nhà máy ép dầu, đơn vị thương mại đến nhà sản xuất cuối cùng. Tùy mô hình, nguồn dầu cọ được quản lý theo cơ chế cân bằng khối lượng hoặc phân tách nguồn[3].
ISCC và RSPO đã được sử dụng trong chuỗi cung ứng bền vững nhiều năm, nhưng EUDR khiến các hệ thống này được doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quan tâm nhiều hơn. Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) có hiệu lực từ tháng 6/2023, áp dụng với 7 nhóm hàng hóa gồm: gia súc, ca cao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu nành và gỗ, cùng các sản phẩm chế biến từ những nhóm hàng này. Khi đưa vào thị trường EU, hàng hóa phải chứng minh không liên quan đến phá rừng hoặc suy thoái rừng xảy ra sau ngày 31/12/2020. Sau hai lần lùi thời hạn, EUDR hiện dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn và vừa, và từ ngày 30/6/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ[4].
Điểm đáng chú ý của EUDR nằm ở yêu cầu về dữ liệu và khả năng kiểm chứng nguồn gốc. Doanh nghiệp phải thực hiện thẩm định để chứng minh hàng hóa đáp ứng quy định, trong đó thông tin về vị trí khu đất sản xuất giữ vai trò quan trọng. Với thửa đất dưới 4 ha , hồ sơ phải có ít nhất một điểm tọa độ; với thửa đất lớn hơn, cần dữ liệu bản đồ đa giác thể hiện ranh giới thực tế của khu đất[5].
Trong bối cảnh đó, ISCC và RSPO có thể hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống truy xuất, kiểm soát nguồn nguyên liệu và hồ sơ chứng nhận theo các tiêu chí bền vững. Đây cũng là lý do những chứng nhận vốn quen thuộc trong các chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng được doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quan tâm khi chuẩn bị cho EUDR. Tuy nhiên, có chứng nhận ISCC hay RSPO không đồng nghĩa với việc hàng hóa tự động đáp ứng đầy đủ EUDR. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện quy trình thẩm định và chuẩn bị hồ sơ theo yêu cầu của quy định này.
Việt Nam đang ở đâu trong quá trình đáp ứng các tiêu chuẩn xanh?
Tại Việt Nam, lĩnh vực đi đầu trong việc đạt chứng nhận ISCC lại không phải nông sản mà là nhiên liệu hàng không. Tháng 2/2024, Công ty Xăng dầu Tân Sơn Nhất (TAPETCO) trở thành doanh nghiệp trong nước đầu tiên đạt đồng thời 3 chứng nhận ISCC EU, ISCC CORSIA và ISCC PLUS cho chuỗi cung ứng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF). Hơn một năm sau, Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), đơn vị vận hành Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhận 2 chứng nhận ISCC CORSIA và ISCC EU do SGS Germany cấp cho hoạt động phối trộn, sản xuất, lưu trữ và thương mại SAF[6].
Đầu tháng 6/2025, BSR xuất bán lô SAF thương mại đầu tiên cho Skypec để cung cấp cho các chuyến bay của Vietnam Airlines. Giữa tháng 8/2025, Petrolimex Aviation công bố hệ thống phối trộn SAF tại Tổng kho Nhà Bè đạt chứng nhận ISCC EU và ISCC CORSIA, đồng thời ký thỏa thuận cung ứng 1,200m3 SAF pha trộn trong nước đầu tiên cho Vietjet. Cục Hàng không Việt Nam cũng đã hoàn tất thủ tục tham gia giai đoạn tự nguyện của cơ chế giảm và bù đắp carbon CORSIA từ ngày 01/01/2026[7].
Ở nhóm nông - lâm sản chịu tác động trực tiếp từ EUDR, mức độ chuẩn bị giữa các ngành có sự khác biệt đáng kể. Cao su là một trong những ngành đã có bước tiến về xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu. Xuất khẩu cao su đạt 11.45 tỷ USD năm 2025, trong đó EU là thị trường lớn thứ ba với 772.2 triệu USD, theo Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA)[8]. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) cho biết đến tháng 6/2026, khoảng 305,000ha, tương đương 81% diện tích cao su do tập đoàn quản lý, đã cơ bản đáp ứng yêu cầu EUDR; 23 đơn vị thành viên được khách hàng châu Âu công nhận tuân thủ quy định này[9].
Tại Gia Lai, Công ty Cao su Chư Sê với hơn 7,300 ha đã vận hành hệ thống thẩm định theo tiêu chuẩn PEFC EUDR DDS, còn Công ty Cao su Chư Păh số hóa bản đồ cho gần 6,200 ha , gắn dữ liệu tọa độ và thời điểm chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho từng lô cao su[10].
Ngành gỗ có gần 15 triệu ha rừng với độ che phủ hơn 42%, khoảng 5,000 doanh nghiệp chế biến, sản phẩm có mặt tại gần 170 quốc gia và vùng lãnh thổ[11]. Tuy nhiên, theo Forest Trends, trong 920 chủ rừng là tổ chức, mới có 446 đơn vị hoàn thành phương án quản lý rừng bền vững. Riêng nhóm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế chỉ đạt tỷ lệ 34.5%, thấp nhất trong ba nhóm chủ rừng. Việt Nam mới thí điểm cấp mã số vùng rừng trồng trên 25,500 ha[12].
Cà phê có kim ngạch xuất khẩu lớn và mức độ nhạy cảm cao trước EUDR, do phần lớn diện tích sản xuất thuộc các nông hộ nhỏ. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 1,59 triệu tấn cà phê, trị giá 8,92 tỷ USD, tăng 58,8% về giá trị so với năm 2024, theo số liệu được Cục Xuất nhập khẩu dẫn lại[13]. Riêng thị trường EU đạt 666.300 tấn, trị giá 3,63 tỷ USD, chiếm 40,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê[14].
Nhờ nỗ lực xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng từ sớm, EU hiện xếp Việt Nam vào nhóm rủi ro thấp với tỷ lệ kiểm tra chỉ khoảng 1%, thấp hơn nhiều so với Brazil hay Indonesia[15]. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức IDH và công ty JDE Peet's đã cùng xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu vùng trồng cà phê và rừng phục vụ EUDR[16]. Tổ chức GIZ triển khai các chương trình đào tạo nông dân, hợp tác xã lập bản đồ định vị tại Sơn La, Thái Nguyên, Đắk Lắk và Lâm Đồng[17].
Chi phí tuân thủ khi vào thị trường EU
Với phần lớn nông hộ nhỏ ở Việt Nam, chi phí đáp ứng yêu cầu EUDR nằm ở cả phí chứng nhận lẫn việc xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc. Một khảo sát năm 2025 của Forest Trends và Tavina trên các hộ trồng cà phê cho thấy gần 60% nông hộ được hỏi không duy trì sổ ghi chép thu hoạch nhất quán, trong khi chỉ khoảng 10% có dữ liệu đến từng thửa đất, đúng loại thông tin EUDR yêu cầu[18]. Với ngành gỗ, chi phí lập phương án quản lý rừng bền vững và chứng nhận dao động 50-200 triệu đồng mỗi phương án, mức chi phí khá lớn đối với nhiều chủ rừng quy mô nhỏ. Đây cũng là một phần nguyên nhân tỷ lệ hoàn thành ở nhóm doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vẫn thấp nhất trong ba nhóm chủ rừng[19].
Dữ liệu định vị vùng nguyên liệu đang là một trong những điểm nghẽn lớn. Để đáp ứng EUDR, mỗi thửa đất phải có tọa độ GPS hoặc bản đồ đa giác, sau đó được đối chiếu với ảnh vệ tinh nhằm xác nhận không có rừng bị mất sau ngày 31/12/2020[20]. Trong khi đó, phần lớn diện tích cà phê và cao su tiểu điền tại Việt Nam nằm dưới một hecta mỗi hộ, phân tán ở nhiều khu vực. Một bộ phận nông dân cũng chưa quen với các công cụ định vị và ứng dụng số hóa vườn cây. Đại diện VRA cho biết, ngành cao su vẫn gặp khó trong quá trình thích ứng EUDR do nhiều diện tích tiểu điền thiếu dữ liệu nền, hồ sơ đất đai chưa hoàn thiện và dữ liệu địa chính chưa đồng bộ giữa các địa phương[21]. Với ngành gỗ, phần lớn dữ liệu hiện có mới dừng ở mức thống kê theo tỉnh hoặc vùng, chưa đủ chi tiết để truy xuất đến từng lô đất theo yêu cầu của EUDR[22].
Khoảng cách giữa các tiêu chuẩn quốc tế và năng lực thực thi trong nước vì vậy còn gắn với cách tổ chức chuỗi cung ứng. Cà phê, cao su thường đi qua nhiều tầng trung gian, từ nông hộ, đại lý thu mua, hợp tác xã đến doanh nghiệp xuất khẩu, khiến việc truy xuất nguồn nguyên liệu đến tận thửa đất phức tạp hơn so với những vùng sản xuất tập trung. GIZ, IDH và các tổ chức liên quan cũng lưu ý rằng những chứng nhận tự nguyện như ISCC, RSPO, hay các chứng nhận quản lý rừng như FSC, PEFC có thể hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh các tiêu chí bền vững, nhưng chưa thể thay thế hệ thống thẩm định bắt buộc theo EUDR. Doanh nghiệp đã có chứng nhận vẫn phải chuẩn bị hồ sơ khai báo trách nhiệm giải trình (DDS) cho từng lô hàng theo yêu cầu của quy định.
Đến giữa năm 2026, Việt Nam đang hình thành hai tốc độ trong quá trình đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Nhóm doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực nhiên liệu hàng không và cao su công nghiệp đã sở hữu chứng nhận quốc tế cùng hệ thống truy xuất tương đối hoàn chỉnh. Ở chiều ngược lại, hàng triệu nông hộ trồng cà phê, cao su và cung cấp nguyên liệu cho ngành gỗ vẫn đang từng bước số hóa dữ liệu đến từng thửa đất, trong khi thời điểm EUDR chính thức áp dụng đang đến gần.
[1] https://chongbanphagia.vn/xuat-khau-ca-phe-6-thang-dau-nam-2026-tang-san-luong-nhung-kim-ngach-giam-n31254.html
[2] https://iscc-system.org/certification/certification-schemes/
[3] https://rspo.org/wp-content/uploads/ENG_PC-2024_V4-1_updated_100725.pdf
[4] https://trade.ec.europa.eu/access-to-markets/en/news/delay-until-december-2026-and-other-developments-implementation-eudr-regulation
[5] https://tracextech.com/eudr-coffee-importers/
[6] https://baochinhphu.vn/bsr-doanh-nghiep-viet-dau-tien-duoc-cap-dong-thoi-2-chung-nhan-quan-trong-ve-phat-trien-ben-vung-102250403163630863.htm
[7] https://tienphong.vn/cac-nha-cung-cap-nhien-lieu-hang-khong-ben-vung-bi-chi-trich-vi-thoi-gia-post1758088.tpo
[8] https://danviet.vn/san-pham-cao-su-viet-nam-phai-chung-minh-la-khong-gay-mat-rung-neu-muon-ban-vao-chau-au-d1438968.html
[9] https://thoibaonganhang.vn/co-hoi-de-nganh-cao-su-viet-but-pha-184309.html
[10] https://nhandan.vn/doanh-nghiep-nganh-cao-su-chu-dong-thich-ung-voi-eudr-post955319.html
[11] https://nongnghiepmoitruong.vn/nguon-goc-go-thanh-loi-the-canh-tranh-truoc-lan-song-siet-truy-xuat-d818460.html
[12] https://nongnghiepmoitruong.vn/nguon-goc-go-thanh-loi-the-canh-tranh-truoc-lan-song-siet-truy-xuat-d818460.html
[13] https://giaothuong.congthuong.vn/gia-xuat-khau-ca-phe-cua-viet-nam-nam-2025-tang-gan-40-440141.html
[14] https://asemconnectvietnam.gov.vn/default.aspx?ID1=1&ZID1=66&ID8=146973
[15] https://vietnamnews.vn/economy/1732267/coffee-industry-to-meet-new-eudr-standards.html
[16] https://idh.org/news/vietnams-coffee-sector-marks-a-landmark-step-towards-sustainability-launching-the-eudr-database-system-for-forest-and-coffee-growing-areas
[17] https://vietnamnews.vn/economy/1732267/coffee-industry-to-meet-new-eudr-standards.html
[18] https://www.agnavigator.com/Article/2026/02/12/land-legality-and-plot-level-traceability-challenge-vietnams-coffee-sector-under-eudr/
[19] https://nongnghiepmoitruong.vn/nguon-goc-go-thanh-loi-the-canh-tranh-truoc-lan-song-siet-truy-xuat-d818460.html
[20] https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2023/1115/oj/eng
[21] https://daidoanket.vn/nganh-cao-su-chu-dong-dap-ung-uedr.html
[22] https://thoibaonganhang.vn/nganh-go-viet-chuyen-doi-san-xuat-sang-ky-nguyen-du-lieu-va-minh-bach-182342.html
Nguyễn Nhiều Lộc











