Gói tín dụng 220,000 tỷ đồng: Phần lãi suất được giảm sẽ được bù từ đâu
Gói 220,000 tỷ đồng không tạo ra vốn rẻ cho nền kinh tế. Nó chuyển một phần chi phí vốn từ nhóm doanh nghiệp được ưu tiên sang bảng cân đối của bốn ngân hàng, và từ đó tiếp tục phân phối sang một nhóm khách hàng khác theo cách còn chưa xác định.

Bốn ngân hàng lớn nhất hệ thống vừa cùng lúc công bố một chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn. Agribank dành 70,000 tỷ đồng, BIDV, Vietcombank và VietinBank mỗi bên 50,000 tỷ đồng, tổng cộng 220,000 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các lĩnh vực được xác định là động lực tăng trưởng. Lãi suất thấp hơn ít nhất 1%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn, riêng Agribank cam kết giảm từ 1-2%/năm. Chương trình chạy từ tháng 8/2026 đến hết năm 2028. Vietcombank tung thêm một gói 20,000 tỷ đồng cho người mua nhà, giảm tới 1%/năm, kỳ hạn tối đa 35 năm, tài trợ tới 100% giá trị căn nhà, nhưng chỉ áp dụng cho những căn đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Hà Nội, TP.HCM và một số tỉnh lân cận, kéo dài đến ngày 31/03/2027.
Con số 220,000 tỷ đồng là doanh số cho vay lũy kế trong 29 tháng, không phải dư nợ tại một thời điểm. Vốn lưu động cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có kỳ hạn ba đến sáu tháng và quay vòng nhiều lần trong năm, nên cùng một hạn mức có thể tạo ra doanh số gấp nhiều lần dư nợ bình quân. Nếu dư nợ bình quân của chương trình đạt khoảng 80,000 đến 110,000 tỷ đồng, con số ước tính dựa trên giả định vòng quay hai đến ba lần mỗi năm, thì phần thu nhập lãi bị từ bỏ ở mức giảm 1%/năm vào khoảng 800 - 1,100 tỷ đồng mỗi năm. Khoản đó phải nằm ở đâu đó trong hệ thống.
Cùng một công cụ, hai cơ chế cấp vốn khác nhau
Trung Quốc vận hành mô hình tín dụng có mục tiêu nhiều năm và năm 2026 vẫn đang vận hành. Ngày 15/01/2026, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc hạ 0.25 điểm phần trăm lãi suất toàn bộ các công cụ cho vay có mục tiêu, đưa lãi suất tái cấp vốn kỳ hạn một năm từ 1.5% xuống 1.25%, áp dụng từ ngày 19/1. Cùng lúc, cơ quan này bơm thêm 900 tỷ nhân dân tệ hạn mức, trong đó 500 tỷ dành cho nông nghiệp và doanh nghiệp nhỏ, 400 tỷ cho đổi mới công nghệ.
Cơ chế này không trợ giá toàn bộ bảng cân đối của ngân hàng thương mại. Phần vốn được tái cấp mang giá 1.25%/năm chỉ tương ứng với hạn mức được phân bổ, phần còn lại ngân hàng vẫn phải tự huy động theo giá thị trường và vẫn chịu đầy đủ áp lực cạnh tranh về biên lợi nhuận. Khác biệt nằm ở chỗ khác: Tồn tại một cửa cấp vốn có giá cố định, có khối lượng công bố, nằm trên bảng cân đối của ngân hàng trung ương. Phần trợ giá được định lượng, và được đặt vào một vị trí xác định trong hệ thống.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên các mức lãi suất điều hành và không công bố một hạn mức tái cấp vốn nào gắn với chương trình 220,000 tỷ đồng. Khi không có cửa vốn tương ứng, phần lãi suất được giảm phải được hấp thụ bên trong ngân hàng thương mại. Điều đó không có nghĩa biên lãi ròng sẽ giảm đúng 1%. Biên lãi ròng là kết quả tổng hợp của cơ cấu tài sản sinh lời, giá vốn FTP nội bộ, tỷ trọng CASA và chi phí dự phòng, và mức giảm 1% chỉ áp lên một phần nhỏ của danh mục. Nó chỉ có nghĩa khoản thu nhập lãi bị từ bỏ phải được bù bằng một đòn bẩy nội bộ nào đó, và mọi đòn bẩy nội bộ đều có trần.
Bằng chứng về hiệu quả truyền dẫn đáng chú ý hơn cả cơ chế. Sau một năm với một phần vốn được trợ giá tận gốc, lãi vay doanh nghiệp tại Trung Quốc mới giảm được 0.2%. Lãi vay mua nhà của cá nhân gần như không đổi. Lãi suất cho vay cơ bản đứng yên 14 tháng liên tiếp, trong khi tăng trưởng quý 2/2026 rơi xuống 4.3%, thấp nhất kể từ cuối năm 2022. Giá vốn không phải là ràng buộc đang chặn tín dụng. Cầu tín dụng mới là ràng buộc, và một chương trình lãi suất ưu đãi không giải quyết được ràng buộc đó.
Mốc tham chiếu nằm trong tay chính bên đưa ra cam kết
Mức ưu đãi được định nghĩa là thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn hiện hành tại chính ngân hàng đó. Không neo vào lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Không neo vào một chỉ số độc lập nào. Các ngân hàng Việt Nam định giá khoản vay bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ, và ngân hàng nắm cả hai cấu phần.
Hệ quả kỹ thuật là cam kết này đo bằng đơn vị tương đối chứ không phải tuyệt đối. Với lạm phát mục tiêu cả năm 2026 quanh mức 4.5% và chi phí huy động đang nhích lên, giả định giá vốn tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong hai quý cuối năm, mốc bình quân dùng làm tham chiếu sẽ dịch lên tương ứng. Cam kết giảm 1%/năm vẫn được giữ đúng từng chữ, trong khi lãi suất tuyệt đối mà doanh nghiệp thực trả có thể không thấp hơn hôm nay. Con số 1.25% của Trung Quốc là một mốc cứng. Con số 1% của nhóm Big 4 là một khoảng cách trôi theo mặt bằng lãi suất. Hai loại cam kết khác nhau về bản chất đo lường, không phải về thiện chí.
Vị thế nguồn vốn làm rõ thêm ràng buộc. Tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi khách hàng của BIDV đã vượt 105% và Vietcombank tiệm cận 99%, nhưng đây chưa phải chỉ số LDR theo quy định: mẫu số tính theo Thông tư 22 còn bao gồm giấy tờ có giá đã phát hành và một số cấu phần huy động khác, nên tỷ lệ tuân thủ thấp hơn đáng kể và cả hai ngân hàng đều nằm trong ngưỡng cho phép. Điều đáng đọc không phải ngưỡng tuân thủ mà là cơ cấu. Phần chênh lệch giữa dư nợ và tiền gửi dân cư đang được bù bằng phát hành giấy tờ có giá và vốn liên ngân hàng, hai nguồn đắt hơn và ngắn hơn tiền gửi truyền thống. Giá vốn biên của nhóm Big 4 đang đi lên đúng vào thời điểm họ cam kết bán vốn rẻ hơn.
Điều kiện sổ đỏ cho biết khẩu vị tài sản bảo đảm, không phải khẩu vị thị trường
Gói 20,000 tỷ đồng của Vietcombank nới rất rộng ở phía đòn bẩy, tài trợ tới 100% giá trị trong 35 năm, nhưng thắt rất chặt ở phía tài sản, chỉ nhận những căn đã có Giấy chứng nhận. Đây là phân khúc sang tên nhanh nhất, rủi ro pháp lý thấp nhất và khả năng xử lý tài sản bảo đảm cao nhất khi khoản vay chuyển nhóm nợ. Cấu trúc điều kiện đó cho biết rủi ro được đặt ở đâu: Rủi ro tín dụng của người vay được chấp nhận ở mức cao, rủi ro pháp lý của tài sản gần như bằng không.
Bối cảnh thị trường giải thích lựa chọn này. Giao dịch bất động sản sáu tháng đầu năm 2026 giảm khoảng 12% so với cùng kỳ, tồn kho tăng, lãi vay mua nhà thả nổi ở mức 13 đến 15%/năm khiến một bộ phận người mua chuyển sang thuê. Dư nợ kinh doanh bất động sản quý 2 đã lên khoảng 2.5 triệu tỷ đồng, tăng gần 13% chỉ trong một quý. Khi dư nợ phía cung tăng nhanh còn thanh khoản phía cầu yếu đi, việc hướng vốn mới về nhóm tài sản có pháp lý hoàn chỉnh là một quyết định quản trị rủi ro danh mục trước khi là một chương trình kích cầu.
Đặt cạnh Trung Quốc sẽ thấy hai lựa chọn thiết kế ngược chiều nhau. Bắc Kinh hạ tỷ lệ trả trước khi mua bất động sản thương mại từ 50% xuống 30%, tức chủ động nhận thêm rủi ro tài sản để giải phóng hàng tồn. Việt Nam giữ nguyên tiêu chuẩn tài sản và chỉ nới ở phía giá vốn. Hai cách xử lý cùng một vấn đề tồn kho, đặt rủi ro vào hai chỗ khác nhau.
Ba hệ quả với người đang nắm giữ tài sản lớn
Thứ nhất, khoảng cách định giá giữa bất động sản đã có sổ đỏ và bất động sản mới chỉ có hợp đồng mua bán sẽ giãn rộng. Một bên có ngân hàng sẵn sàng tài trợ tới 100% giá trị trong 35 năm, một bên không có. Chênh lệch này đang mở ra ngay lúc này tại Hà Nội và TP.HCM, và nó không phản ánh chất lượng xây dựng hay vị trí. Với danh mục bất động sản của gia đình, tình trạng pháp lý không còn là thủ tục hành chính mà là một cấu phần định giá trực tiếp, vì nó quyết định khả năng tiếp cận tín dụng của người mua tiếp theo.
Thứ hai, phần thu nhập lãi bị từ bỏ sẽ được bù bằng một tổ hợp đòn bẩy chứ không phải một đòn bẩy duy nhất, và mỗi đòn bẩy có độ trễ cùng trần riêng.
Đòn bẩy duy nhất có thể kích hoạt trong vòng một quý và hoàn toàn nằm trong quyền quyết định của ngân hàng là điều chỉnh biên độ tại kỳ tái định giá. Không có gì bảo đảm ngân hàng sẽ chọn cách đó, và một số ngân hàng nhiều khả năng chấp nhận ROE thấp hơn để giữ thị phần. Nhưng người đang vay theo lãi suất thả nổi nên đọc lại điều khoản biên độ trong hợp đồng trước kỳ điều chỉnh quý 4. Chi phí của việc chuẩn bị thiếu là 50 đến 100 bps trên toàn bộ dư nợ cá nhân, kéo dài suốt kỳ tái định giá tiếp theo.
Thứ ba, không thể suy ra hướng đi của lãi suất tiền gửi từ chương trình này, theo cả hai chiều. Giá tiền gửi được quyết định bởi chênh lệch tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động toàn hệ thống, bởi room tín dụng được cấp và bởi các tỷ lệ an toàn thanh khoản, không phải bởi cách định giá một nhóm khoản vay vốn đã nằm trong room. Cho vay rẻ hơn trong cùng một hạn mức tăng trưởng làm thay đổi phân phối lợi nhuận giữa các nhóm khách hàng, không làm thay đổi tổng nhu cầu vốn của ngân hàng. Biến số cần theo dõi để dự báo lãi suất huy động là chênh lệch giữa tốc độ tăng tín dụng và tăng huy động toàn hệ thống, cùng khối lượng giấy tờ có giá mà nhóm Big 4 phát hành trong quý 4.
Gói 220,000 tỷ đồng không tạo ra vốn rẻ cho nền kinh tế. Nó chuyển một phần chi phí vốn từ nhóm doanh nghiệp được ưu tiên sang bảng cân đối của bốn ngân hàng, và từ đó tiếp tục phân phối sang một nhóm khách hàng khác theo cách còn chưa xác định. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy ngay cả khi ngân hàng trung ương trực tiếp cấp vốn có mục tiêu với giá cố định, hiệu quả truyền dẫn sau một năm cũng chỉ đạt 0.2%. Với người đang giữ danh mục lớn, phép kiểm tra cần làm trong quý 4 không phải là con số giải ngân được công bố, mà là xác định phần nào trong cấu trúc tài sản và nợ của mình nằm trong nhóm được trợ giá, và phần nào nằm trong nhóm trả tiền cho khoản trợ giá đó.
Chu Tuấn Phong











