Toàn cầu hóa đã đến hồi kết?
Đối với các nhà kinh tế học, toàn cầu hóa có nghĩa là tự do hóa thương mại, dòng vốn và khả năng dịch chuyển lao động. Quá trình này khởi đầu vào năm 1989, khi Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập, Bức tường Berlin sụp đổ, hiệp định thương mại tự do Mỹ - Canada có hiệu lực và Francis Fukuyama tuyên bố “sự kết thúc của lịch sử”. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ra đời tiếp theo vào năm 1992.
Ảnh: Nikkei Asia
|
Năm 1994, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập. 164 thành viên của tổ chức này trao cho WTO quyền thiết lập các điều kiện để hàng hóa và dịch vụ nước ngoài tiếp cận thị trường của mình. Năm 1999, đồng Euro thống nhất chính sách tiền tệ tại phần lớn châu Âu. Đến năm 2001, Trung Quốc, quốc gia đang phát triển lớn nhất thế giới, gia nhập WTO. Các hiệp định thương mại khu vực như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) xuất hiện ngày càng nhiều, đến mức các nhà kinh tế học gọi mạng lưới chằng chịt này là một “tô mì spaghetti”.
Những lợi ích mà toàn cầu hóa mang lại là có thật. Thương mại tự do cùng các thị trường vốn và lao động mở giữa các quốc gia giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, nâng cao lợi tức của các yếu tố sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Hơn 100 triệu người tại các nước đang phát triển đã thoát nghèo, gia nhập tầng lớp trung lưu, trong khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng hoạt động trên khắp thế giới và thu về lợi nhuận nhờ lợi thế quy mô. Trung Quốc, quốc gia hưởng lợi lớn nhất, đã chứng kiến GDP bình quân đầu người tăng từ chưa đến 500 USD lên hơn 14,000 USD.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa không biến tất cả mọi người thành người chiến thắng. Người lao động tại các nước phát triển, từ lao động chân tay đến ngày càng nhiều lao động trí óc, phải cạnh tranh với nguồn nhân công giá rẻ, lao động có tay nghề và kỹ sư tại các nước đang phát triển. Khi các tập đoàn đa quốc gia chuyển những công đoạn sản xuất đã trưởng thành, tiêu chuẩn hóa ra nước ngoài, những người không thể đi theo dòng vốn rơi vào cảnh thất nghiệp và mất đi nền tảng bảo đảm cuộc sống của tầng lớp trung lưu. Trong giai đoạn 1990-2008, Mỹ mất 4 triệu việc làm trong ngành sản xuất, trong đó toàn cầu hóa là một nguyên nhân lớn. Không cần đến những mô hình kinh tế lượng phức tạp cũng có thể nhận ra điều này: Dưới thời Tim Cook, Apple thuê gia công phần lớn khâu lắp ráp tại châu Á, trong khi các trung tâm dịch vụ khách hàng ở Manila mở rộng hoạt động còn những cơ sở tương tự tại Mỹ đóng cửa.
Phần lớn giới kinh tế học đã làm ngơ trước thực tế này. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, lý thuyết về nguồn lực sản xuất của Eli Heckscher và Bertil Ohlin, cùng lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô của Paul Krugman đều cho thấy thương mại tự do giúp nâng cao phúc lợi tổng thể. Các mô hình cân bằng tổng thể khả toán, vốn giả định rằng không có thất nghiệp và nông dân có thể chuyển sang làm công nhân sản xuất ô tô, còn công nhân ô tô dễ dàng trở thành kỹ sư phần mềm, ước tính lợi ích tăng trưởng lên tới vài điểm phần trăm. Những kết quả này được dùng để củng cố lập luận ủng hộ các hiệp định thương mại tự do.
Thế nhưng, thương mại tự do tạo ra cả kẻ thắng lẫn người thua, đồng thời làm gia tăng bất bình đẳng trong mỗi quốc gia. Paul Samuelson, nhà kinh tế học đầu tiên đoạt giải Nobel kinh tế, đã chứng minh điều này hơn 80 năm trước. Trong nghiên cứu năm 1941 mang tên Protection and Real Wages (Bảo hộ và tiền lương thực tế), Samuelson và Wolfgang Stolper chỉ ra rằng thương mại tự do mang lại lợi ích cho những người sở hữu yếu tố sản xuất dồi dào tại một quốc gia, nhưng gây bất lợi cho những người sở hữu yếu tố khan hiếm. Các nước phát triển có nguồn vốn dồi dào nhưng thiếu lao động, vì vậy giới chủ sở hữu vốn được hưởng lợi còn người lao động chịu thiệt khi thương mại tự do mở rộng. Nếu một quốc gia nhập khẩu hàng hóa thâm dụng lao động, thuế quan có thể làm tăng tiền lương thực tế của người lao động. Nói cách khác, thuế quan có thể bảo vệ những người thua thiệt từ thương mại tự do.
Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm 12 quốc gia, ngày 23/1/2017 tại Washington. Ảnh: AP.
|
Trong một bài viết năm 2004 trên Journal of Economic Perspectives, Samuelson đi xa hơn khi phân tích động lực thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông lập luận rằng nếu Trung Quốc bắt kịp Mỹ trong mọi ngành mà Mỹ có lợi thế so sánh, Mỹ sẽ không còn gì để bán, khiến nền tảng của hoạt động thương mại biến mất. Vì vậy, thương mại tiếp diễn trong khi công nghệ Trung Quốc không ngừng tiến bộ có thể làm suy giảm phúc lợi của người Mỹ.
Logic này không khó nhận ra. Người tiêu dùng Trung Quốc từng mua đồ gia dụng Nhật Bản, cho đến khi ngành công nghiệp trong nước vươn lên. Nokia và Samsung từng thống trị thị trường điện thoại Trung Quốc, nhưng hiện các thương hiệu nội địa chiếm hơn 85% thị phần và Apple là hãng nước ngoài duy nhất còn trụ lại. Thị trường ô tô Trung Quốc từng thuộc về xe nhập khẩu và các liên doanh, nhưng xe điện Trung Quốc giờ đây đang đe dọa sự tồn tại của các hãng xe Nhật Bản và châu Âu. Tuy nhiên, vào năm 2004, toàn cầu hóa vẫn là xu hướng chủ đạo của thế giới, còn giới học thuật và hoạch định chính sách Mỹ ít chú ý đến cảnh báo này.
Bước ngoặt đến vào năm 2016, khi Donald Trump, một ông trùm bất động sản không có kinh nghiệm chính trị, được bầu làm Tổng thống Mỹ thứ 45. Nền tảng tranh cử “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) được xây dựng trên lập trường phản đối thương mại tự do: Đưa ra ưu đãi thuế để khuyến khích vốn quay về trong nước, đàm phán lại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Mỹ, Canada và Mexico, đồng thời rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - tiền thân của thỏa thuận CPTPP.
Chiến thắng của ông Trump không phải là một sự kiện thiên nga đen. Đó là sự thức tỉnh về chính trị của những cử tri thuộc tầng lớp lao động và trung lưu, những người phải gánh chịu chi phí của toàn cầu hóa và cuối cùng đã sử dụng lá phiếu để bác bỏ mô hình mà giới tinh hoa cùng các nhà kinh tế học từ lâu ủng hộ.
Ngay trong ngày đầu tiên nhậm chức, 20/1/2017, ông Trump đã rút Mỹ khỏi TPP. Năm 2018, ông phát động chiến tranh thương mại với Trung Quốc, áp thuế bổ sung từ 7.5% đến 25%. Bốn đợt đơn phương cắt giảm thuế quan của Trung Quốc cùng thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 giữa Mỹ và Trung Quốc năm 2020 cũng không thể khôi phục thời kỳ quan hệ nồng ấm trước đó.
Sau khi trở lại Nhà Trắng vào năm 2025, ông Trump áp thuế quan “đối ứng” lên tất cả đối tác thương mại và khởi động một cuộc chiến thương mại toàn cầu. Chính quyền của ông từ chối phê chuẩn việc gia hạn Hiệp định Mỹ - Mexico - Canada (USMCA), phiên bản kế nhiệm NAFTA sau khi được đàm phán lại, đồng thời gần đây mở thêm một cuộc chiến thương mại với Canada, đồng minh lâu năm và nước láng giềng thân thiện của Mỹ.
Toàn cầu hóa theo mô hình cũ dựa trên các chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phân chia công đoạn theo lợi thế so sánh và phối hợp với nhau để tạo ra sản phẩm tốt nhất. Sự hợp tác đó đòi hỏi niềm tin giữa các quốc gia, nhưng các cường quốc thương mại lớn hiện đã đánh mất niềm tin lẫn nhau. Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, an ninh kinh tế và năng lực tự chủ công nghệ giờ đây được đặt lên trên những lợi ích về hiệu quả mà thương mại tự do mang lại. Khi các quốc gia sử dụng thuế quan, biện pháp kiểm soát xuất khẩu và lệnh cấm vận công nghệ để khôi phục ngành công nghiệp trong nước hoặc trừng phạt đối tác, thương mại tự do đã kết thúc và quá trình phi toàn cầu hóa bắt đầu.
Tuy nhiên, phi toàn cầu hóa không đồng nghĩa với việc thương mại chấm dứt, cũng không có nghĩa thế giới quay trở lại trạng thái tự cung tự cấp. Thay vào đó, “thương mại có quản lý” sẽ thay thế thương mại tự do để trở thành xu hướng chủ đạo. Mỗi quốc gia sẽ quyết định mình xuất khẩu và nhập khẩu những gì, giao thương với ai và theo những điều kiện nào.
Danh mục thương mại trị giá 60 tỷ USD mà Trung Quốc và Mỹ vừa công bố là một ví dụ. Hai bên xác định chi tiết phạm vi hàng hóa và quy định các điều kiện theo mức thuế tối huệ quốc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vì đây là thỏa thuận song phương, rõ ràng các điều kiện này không được mở rộng sang những quốc gia khác đang phải đối mặt với thuế quan của Mỹ.
*Bài viết thể hiện quan điểm của ông Yuqing Xing, giáo sư kinh tế tại Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia (GRIPS) ở Tokyo, Nhật Bản
Vũ Hạo










