Từ 10/09/2026: Doanh nghiệp chậm trả lương có thể bị phạt đến 100 triệu đồng

Ngày 15/07/2026, Chính phủ ban hành Nghị định  283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ 10/09/2026. Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định xử phạt về tiền lương.

Quy định về nghĩa vụ trả lương của người sử dụng lao động

Theo Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Tại Điều 94 Bộ luật lao động 2019 ghi nhận về nguyên tắc, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về kỳ hạn trả lương thì người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Như vậy, việc doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, thiếu dòng tiền, khách hàng chậm thanh toán hoặc doanh thu giảm không đương nhiên làm mất đi nghĩa vụ trả lương đúng hạn. Trong trường hợp có căn cứ thuộc trường hợp pháp luật cho phép chậm trả, doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ giới hạn về thời gian và nghĩa vụ trả thêm khoản tiền do chậm trả theo quy định của Bộ luật Lao động.

Chậm trả lương từ ngày 10/09/2026 doanh nghiệp có thể bị phạt đến 100 triệu đồng

Theo Khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định như sau:

2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5,000,000 đồng đến 10,000,000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10,000,000 đồng đến 20,000,000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20,000,000 đồng đến 30,000,000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30,000,000 đồng đến 40,000,000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40,000,000 đồng đến 50,000,000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp, mức phạt thực tế cao hơn. Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Theo đó, trường hợp doanh nghiệp trả lương không đúng hạn cho từ 01 đến 10 người lao động có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Nếu số người lao động bị ảnh hưởng từ 11 đến 50 người, mức phạt có thể từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng. Trường hợp vi phạm từ 51 đến 100 người lao động, doanh nghiệp có thể bị phạt từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng; từ 101 đến 300 người lao động có thể bị phạt từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng và nếu vi phạm đối với từ 301 người lao động trở lên thì mức phạt có thể lên đến 100 triệu đồng.

Không chỉ bị phạt tiền, doanh nghiệp còn phải trả lương và tiền lãi

Tại Khoản 5 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Theo đó, người sử dụng lao động buộc phải trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động. Khoản tiền lãi được tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.

Do đó, doanh nghiệp cần chủ động rà soát lại toàn bộ quy trình quản lý và thanh toán tiền lương. Trước hết, doanh nghiệp cần kiểm tra lại hợp đồng lao động để xác định ngày và kỳ hạn trả lương đang áp dụng. Đối với những hợp đồng có quy định không rõ ràng về kỳ hạn trả lương hoặc có nội dung không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, doanh nghiệp cần xem xét điều chỉnh cho phù hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần chủ động xây dựng phương án dòng tiền để bảo đảm nguồn tiền trả lương đúng hạn. Trong trường hợp dự kiến có khó khăn về thanh khoản, doanh nghiệp cần đánh giá sớm khả năng thực hiện nghĩa vụ trả lương và có phương án xử lý phù hợp thay vì để phát sinh tình trạng chậm lương kéo dài.

Như vậy, quy định mới tại Nghị định 283/2026/NĐ-CP không chỉ tăng mức phạt mà còn đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao tính tuân thủ trong toàn bộ quá trình quản lý tiền lương. Việc doanh nghiệp chủ động rà soát và hoàn thiện quy trình trả lương là giải pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo đảm quyền lợi của người lao động và hạn chế rủi ro pháp lý trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng

FILI - 19:00:00 11/09/2026