Việt Nam cần bao nhiêu vốn để tăng trưởng hai con số?

Với mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới, Việt Nam sẽ cần lượng vốn đầu tư khổng lồ. Theo các chuyên gia, bên cạnh bài toán huy động đủ vốn, Việt Nam còn phải trả lời câu hỏi làm sao để phân bổ hiệu quả.

Diễn đàn Tài chính 2026 với chủ đề "Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh" tổ chức chiều ngày 20/05/2026 - Ảnh: Huy Khải

Việt Nam cần gần 40 triệu tỷ đồng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong phần tham luận để trả lời cho bài toán huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách Công, Đại học Fulbright Việt Nam cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong những năm tới, nhu cầu vốn sẽ tăng rất mạnh. Nếu tính thêm yếu tố lạm phát khoảng 4.5%/năm, tăng trưởng danh nghĩa sẽ khoảng 14.5%.

Theo tính toán của ông Tuấn, tổng nhu cầu vốn đầu tư xã hội cho giai đoạn 2026 - 2030 có thể lên tới gần 40 triệu tỷ đồng, cao hơn một chút so với kịch bản của Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, do đưa ra giả định lạm phát cao hơn.

Hiện nay, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 32.3% GDP, nhưng trong thời gian tới cần nâng dần lên tối thiểu 40% GDP. Đồng thời, Việt Nam cũng phải cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, giảm hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) từ mức gần 6 hiện nay xuống còn khoảng 4.5 - 4.8 theo mục tiêu của Chính phủ và Quốc hội.

Về cơ cấu nguồn vốn, khu vực kinh tế Nhà nước hiện chiếm khoảng 26 - 27% tổng đầu tư xã hội, nhưng định hướng sắp tới sẽ giảm xuống còn khoảng 20 - 22%. Điều đó đồng nghĩa phần còn lại phải được bù đắp chủ yếu bởi khu vực kinh tế tư nhân và FDI.

Đối với đầu tư công, nguồn lực ngân sách sẽ chịu áp lực rất lớn. Nếu muốn tăng đầu tư công sẽ phải tăng thuế, phí, hoặc tăng phát hành trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, tăng thuế, phí sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu tăng trưởng, còn phát hành trái phiếu quá nhiều có thể gây hiệu ứng “chen lấn” đầu tư tư nhân khi mặt bằng lãi suất tăng lên.

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng Việt Nam cần 40 triệu tỷ đồng để đáp ứng tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030 - Ảnh: Huy Khải

Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế. Tuy nhiên, có một thực tế rằng dòng vốn này không hoàn toàn đi vào sản xuất mà còn phục vụ tiêu dùng và các lĩnh vực phi sản xuất. Do đó, vấn đề quan trọng không chỉ là tăng trưởng tín dụng bao nhiêu, mà là phân bổ dòng vốn như thế nào.

Vai trò của thị trường vốn vẫn còn khá hạn chế. Dù quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 108% GDP, nhưng khả năng huy động vốn thực tế còn thấp. Năm 2025, phát hành cổ phiếu đạt khoảng 150,000 tỷ đồng, chỉ tương đương hơn 1% GDP. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng mới phục hồi sau giai đoạn khó khăn, nhưng phần lớn vẫn tập trung ở nhóm ngân hàng, bất động sản và tài chính.

Theo ông Tuấn, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh huy động vốn trung và dài hạn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu quốc tế. Đồng thời, cần khuyến khích khu vực tư nhân gia tăng đầu tư, nâng tỷ trọng vốn tự có và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Ngoài các kênh truyền thống như tín dụng ngân hàng và đầu tư công, Việt Nam cũng cần tận dụng các công cụ tài chính mới và các kênh huy động vốn hiện đại để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao nhưng bền vững trong giai đoạn tới.

Chia sẻ tại diễn đàn, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan Điều hành, Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TPHCM (VIFC-HCMC), trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số đến năm 2045, nhu cầu vốn trong 20 năm tới sẽ rất lớn. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện ở mức cao, vì vậy cần thêm các kênh dẫn vốn mới nhằm giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, trong đó có thị trường vốn và VIFC.

Hiện nay, VIFC đang kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực như hạ tầng, tài chính hàng hải - hàng không, fintech, tài chính xanh, quản lý tài sản, năng lượng và công nghệ. Doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia đầu tư thông qua việc thành lập pháp nhân trong Trung tâm.

Ông Nguyễn Hữu Huân trong phần chia sẻ liên quan đến VIFC-HCMC - Ảnh: Huy Khải

Doanh nghiệp cần giảm phụ thuộc vốn vay ngân hàng

Chia sẻ tại diễn đàn với chủ đề "Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh", ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, các xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, đã làm thay đổi đáng kể triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2026. Các tổ chức như IMF, OECD hay World Bank đều đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới. Giá dầu vượt 100 USD/thùng, đồng USD tăng giá và xu hướng dịch chuyển dòng vốn về tài sản an toàn đang gây áp lực lớn lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, các NHTW trên thế giới chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ thận trọng hơn. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) gần đây tiếp tục giữ nguyên lãi suất điều hành và duy trì quan điểm thận trọng với triển vọng kinh tế toàn cầu.

Với Việt Nam, nền kinh tế vẫn đối mặt nhiều thách thức như áp lực lạm phát gia tăng do giá năng lượng tăng cao, hoạt động logistics và xuất nhập khẩu chững lại, cùng với rủi ro tỷ giá, dòng vốn quốc tế và áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Đại diện NHNN cũng lưu ý áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng khi tỷ lệ tín dụng/GDP cuối năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng. Bên cạnh đó, nợ xấu có nguy cơ gia tăng do chi phí vốn tăng và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế.

Ông Nguyễn Phi Lân phát biểu tại sự kiện - Ảnh: Huy Khải

Trước bối cảnh trên, NHNN khuyến nghị doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin, sử dụng vốn đúng mục đích và tăng khả năng chống chịu trước biến động bên ngoài. Đồng thời, doanh nghiệp cần đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các kênh huy động vốn trung - dài hạn khác nhằm giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

NHNN cũng khuyến cáo doanh nghiệp thận trọng với các hoạt động đầu cơ tài sản trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động mạnh, tránh sử dụng vốn tín dụng sai mục đích vì có thể làm gia tăng nợ xấu và rủi ro hệ thống.

Về điều hành thời gian tới, ông Lân cho biết NHNN sẽ tiếp tục giữ ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ưu tiên tín dụng cho sản xuất kinh doanh và kiểm soát chặt dòng vốn vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Đồng thời, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Huy Khải

FILI - 17:41:34 20/05/2026