UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam lên 9.2% năm 2026, 8.8% năm 2027
Theo Báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý 3/2026 được thực hiện bởi Bộ phận Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nâng dự báo tăng trưởng năm 2026 lên 9.2% (từ 8.5%) và dự báo CPI lên 4.7% (từ 4.1%), đồng thời duy trì quan điểm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ giữ nguyên chính sách lãi suất.
Tăng trưởng tăng tốc quý thứ 3 liên tiếp
Dữ liệu do Tổng cục Thống kê công bố (vào ngày 03/10) cho thấy GDP Việt Nam tăng 9.95% so với cùng kỳ trong quý 3/2026, cao hơn mức 8.81% đã được điều chỉnh của quý 2/2026, đồng thời vượt dự báo đồng thuận 8.65% của Bloomberg cũng như dự báo 9%. Đây là tốc độ tăng trưởng theo quý nhanh nhất kể từ quý 3/2022. Việc điều chỉnh tăng số liệu tăng trưởng quý 1/2026 (lên 8.15%) và quý 2/2026 (lên 8.81%) đồng nghĩa đà tăng trưởng đã tăng tốc trong từng quý kể từ đầu năm. Nhờ đó, tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt 9.01%, cao hơn đáng kể so với mức 7.8% cùng kỳ 2025.
Xét theo từng khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chính khi tăng 12.5% so với cùng kỳ trong quý 3/2026, trong khi khu vực dịch vụ tăng 9.54% và nông, lâm, thủy sản tăng 4.21%. Tính chung 9 tháng đầu năm, công nghiệp và xây dựng tăng 11.21%, đóng góp 49.62% vào mức tăng tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng 8.69% (đóng góp 45.03%), còn khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 4.02% (đóng góp 5.35%).
Từ góc độ cầu, tiêu dùng cuối cùng trong 9 tháng đầu năm tăng 8.51%, trong khi tổng tích lũy tài sản tăng mạnh 17.88%, phản ánh tác động tích cực từ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Hoạt động thương mại duy trì đà tăng trưởng tích cực với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21.29%, đồng thời nhập khẩu tăng 27.19%. Đà tăng trưởng cũng lan tỏa rộng hơn trên cả nước khi có 12/34 tỉnh, thành phố ghi nhận tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt từ 10% trở lên.
Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ASEAN với khoảng cách đáng kể so với các nước trong khu vực.
Sản xuất và đầu tư vẫn là những động lực tăng trưởng chính
Sản lượng công nghiệp tăng 16.7% so với cùng kỳ trong tháng 9, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 17.1% và sản lượng điện tăng 15.5%. Lũy kế 9 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng 12.3%, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13.4% (riêng tháng 9 tăng 14.1%). Ngành điện tử tiếp tục đóng vai trò trụ cột: kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 111 tỷ USD tính đến giữa tháng 9, cho thấy mức độ hưởng lợi ngày càng lớn của Việt Nam từ làn sóng đầu tư toàn cầu vào trí tuệ nhân tạo (AI).
Tuy nhiên, các chỉ báo hướng tới tương lai đang cho thấy tín hiệu kém tích cực hơn. Chỉ số PMI ngành sản xuất của S&P Global giảm xuống 51.9 điểm trong tháng 9 từ mức 53.3 điểm của tháng 8, đánh dấu mức thấp nhất trong 3 tháng, trong khi các đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ 2 liên tiếp với tốc độ mạnh nhất kể từ tháng 4. Dù vậy, niềm tin kinh doanh đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 2, đồng thời áp lực tăng giá đầu ra tiếp tục hạ nhiệt tháng thứ 5 liên tiếp.
Triển vọng đầu tư vẫn đặc biệt tích cực, phản ánh xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng và dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam tiếp tục diễn ra. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký trong 9 tháng đầu năm tăng mạnh 76.4% so với cùng kỳ lên 50.36 tỷ USD, trong khi vốn FDI giải ngân tăng 12.1% lên 21.07 tỷ USD, mức cao nhất trong 9 tháng trong vòng 5 năm qua. Về đầu tư công, đến cuối tháng 8, giải ngân vốn đầu tư từ NHNN đạt 50.5% kế hoạch năm, tăng 18.5% so với cùng kỳ. Riêng trong tháng 9, giá trị giải ngân tăng 20.4%, đồng nghĩa khoảng một nửa của kế hoạch đầu tư công kỷ lục 1.08 triệu tỷ đồng vẫn còn được triển khai trong quý 4/2026.
Cán cân thương mại trở lại trạng thái thặng dư, nhưng thâm hụt trong 9 tháng đầu năm ở mức kỷ lục
Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 9 tăng 39.1% so với cùng kỳ lên 59.48 tỷ USD, vượt mức dự báo đồng thuận 26.6%, trong khi nhập khẩu tăng 45.8% lên 58.21 tỷ USD. Nhờ đó, cán cân thương mại thặng dư 1.27 tỷ USD, đánh dấu tháng thặng dư đầu tiên sau 9 tháng liên tiếp thâm hụt và nhìn chung phù hợp với dự báo đưa ra vào tháng 7 rằng cán cân thương mại sẽ quay lại trạng thái thặng dư vào cuối năm 2026.
Trong 9 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 24.5% lên 434.3 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng 36.7% lên 453.72 tỷ USD, khiến cán cân thương mại thâm hụt kỷ lục 19.42 tỷ USD, trái ngược với mức thặng dư 16.87 tỷ USD cùng kỳ. Năng lượng tiếp tục là yếu tố gây sức ép lớn nhất đối với cán cân thương mại. Khối lượng nhập khẩu xăng dầu thành phẩm tăng 11.5%, nhưng giá trị nhập khẩu tăng tới 79.3%. Đối với dầu thô, khối lượng nhập khẩu giảm 13,5% nhưng giá trị vẫn tăng 14.4%. Đáng chú ý, 94.1% giá trị nhập khẩu là nguyên vật liệu và đầu vào phục vụ sản xuất, cho thấy nhập khẩu gia tăng chủ yếu nhằm mở rộng năng lực sản xuất thay vì phản ánh sự bùng nổ của nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 140 tỷ USD, trong khi thặng dư thương mại song phương tăng 23.8% lên 122.62 tỷ USD. Điều này đồng nghĩa Việt Nam vẫn chịu tác động từ cơ chế thuế quan theo Mục 301 (mức thuế 12.5%) cũng như mức phạt 40% đối với hoạt động trung chuyển hàng hóa.Trong bối cảnh quý 4 thường là mùa cao điểm xuất khẩu và giá năng lượng đã giảm so với đỉnh trước đó, UOB kỳ vọng Việt Nam tiếp tục ghi nhận các tháng thặng dư thương mại trong thời gian tới. Tuy nhiên, cán cân thương mại cả năm nhiều khả năng vẫn ở trạng thái thâm hụt và thặng dư tài khoản vãng lai sẽ thấp hơn đáng kể so với năm 2025.
Lạm phát trở lại ngưỡng trên 5%, trong khi lạm phát bình quân đã chạm mức trần mục tiêu
CPI toàn phần trong tháng 9 tăng 0.62% so với tháng trước, đẩy lạm phát lên 5.08% so với cùng kỳ, từ mức 4.89% tháng 8 và là mức cao nhất kể từ tháng 5. Nhóm giao thông là động lực tăng giá chính (với 3.97% so với tháng trước) do giá nhiên liệu trong nước tăng cao. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh học phí khi bước vào năm học mới cũng góp phần làm gia tăng chi phí giáo dục. Trong khi đó, lạm phát cơ bản ổn định hơn ở mức 4.45% so với cùng kỳ và tăng 0.11% so với tháng trước.
Giai đoạn hạ nhiệt tạm thời trong tháng 6 và 7 (lần lượt ở mức 4.69% và 4.45%) đã đảo chiều. CPI bình quân quý 3/2026 đạt 4.8% so với cùng kỳ, trong khi mức bình quân 9 tháng đầu năm tăng lên 4.52%, tương đương mức trần mục tiêu 4.5%, còn lạm phát cơ bản bình quân đạt 4.26%. Trong 9 tháng đầu năm, giá nhiên liệu tăng 10.89%, góp phần khiến nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6.68% so với cùng kỳ (đóng góp 1.26 điểm phần trăm vào CPI), nhóm lương thực thực phẩm tăng 4.72% (đóng góp 1.59 điểm phần trăm) và nhóm giáo dục tăng 3.36% (đóng góp 0.21 điểm phần trăm).
Triển vọng lạm phát trong quý 4/2026 cho thấy những tín hiệu trái chiều. Tác động lan tỏa từ giá năng lượng vẫn hiện hữu, nhu cầu trong nước duy trì ở mức cao và tăng trưởng tín dụng vẫn quanh ngưỡng 16% so với cùng kỳ (tính đến cuối tháng 8). Ngược lại, lạm phát giá đầu ra theo khảo sát PMI đã giảm tháng thứ 5 liên tiếp, trong khi nền so sánh của quý 4/2025 (đặc biệt tháng 11/2025 ở mức 3.58%) cao hơn giai đoạn đầu năm. UOB kỳ vọng CPI toàn phần duy trì quanh mức 5% trong quý 4/2026, kéo lạm phát bình quân cả năm lên khoảng 4.7% (so với dự báo trước đó ở mức 4.1%), vượt mục tiêu chính thức 4.5%.
Nâng dự báo tăng trưởng lên 9.2%, trong khi NHNN nhiều khả năng tiếp tục giữ nguyên lãi suất
Trước kết quả tăng trưởng tích cực vượt kỳ vọng trong quý 3/2026 cùng với việc điều chỉnh tăng số liệu của nửa đầu năm, UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 lên 9.2%, từ mức 8.5% trước đó. Dự báo này hàm ý tăng trưởng trong quý 4/2026 đạt khoảng 9.7%, được hỗ trợ bởi việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công vào cuối năm, mùa cao điểm xuất khẩu và dòng vốn FDI ở mức kỷ lục. Mức dự báo này cũng phản ánh khả năng tăng trưởng chậm lại so với quý 3/2026, trong bối cảnh nền so sánh quý 4/2025 ở mức cao (8.46%) và số lượng đơn hàng xuất khẩu có dấu hiệu sụt giảm.
Đối với năm 2027, UOB nâng dự báo tăng trưởng lên 8.8% (từ 8.4%), khi dòng vốn FDI đăng ký hiện nay dần chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế, cùng với các động lực cải cách từ Nghị quyết 19-NQ/TW ban hành ngày 28/7/2026, tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng, nâng cấp công nghiệp và phát triển các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng chính thức 10% của năm 2026, nền kinh tế cần tăng trưởng khoảng 12.5-13% trong quý 4/2026, mức mà UOB cho rằng vẫn khó đạt được. Tuy nhiên, tăng trưởng năm 2026 nhiều khả năng vượt đáng kể mức 8% năm 2025. Các rủi ro chính đối với triển vọng tăng trưởng bao gồm giá năng lượng tăng mạnh do xung đột Mỹ - Iran chưa được giải quyết, Mỹ áp dụng các biện pháp thuế quan nghiêm ngặt hơn sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026, các hạn chế về nguồn cung điện và hạ tầng, cũng như nguy cơ chậm giải ngân đầu tư công.
Đối với NHNN, bài toán đánh đổi chính sách đang ngày càng rõ nét hơn. Lạm phát hiện đã vượt mức trần mục tiêu 4.5%, tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tăng trưởng huy động và tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tiến gần mức 2 chữ số. Điều này làm gia tăng đáng kể áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ, đặc biệt trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được dự báo tiếp tục nâng lãi suất. Dù vậy, việc thắt chặt tiền tệ có thể không mang lại nhiều hiệu quả trong việc kiềm chế các áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía cung, đồng thời có nguy cơ làm suy giảm động lực tăng trưởng kinh tế. Trong kịch bản cơ sở, UOB tiếp tục kỳ vọng NHNN giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4.5% đến hết năm 2027, đồng thời sử dụng các công cụ thị trường mở và hạn mức tăng trưởng tín dụng để điều tiết thanh khoản, tuy nhiên, rủi ro hiện nghiêng nhiều hơn về khả năng tăng lãi suất.
Tính đến ngày 2/10, đồng Việt Nam đã tăng khoảng 1% so với đầu năm, giao dịch quanh mức 25,987 VND/USD. Tuy nhiên, sự ổn định này chủ yếu nhờ các biện pháp điều hành của NHNN. Khi Fed đã nâng lãi suất lên 4% trong tháng 9/2026 và được dự báo tiếp tục tăng thêm 2 lần nữa trước quý 1/2027, chênh lệch lãi suất 50 điểm cơ bản giữa Việt Nam và Mỹ sẽ dần thu hẹp, khiến tỷ giá VND dễ bị tác động hơn bởi các dòng vốn đầu tư gián tiếp. Dù vậy, việc cán cân thương mại quay lại thặng dư, dòng vốn FDI ở mức kỷ lục và tốc độ tăng trưởng GDP trên 9% sẽ tiếp tục hỗ trợ sự ổn định của đồng nội tệ. UOB hiện dự báo tỷ giá USD/VND ở mức 26,300 trong quý 4/2026, 26,600 trong quý 1/2027 và 26,800 trong quý 2-3/2027.
Hàn Đông










