Ẩn số than!
Không phải cứ xây thêm nhiều nhà máy điện là sẽ giải quyết được tình trạng thiếu điện, mà còn phụ thuộc vào việc tìm đâu ra nguồn cung cấp than để chạy các nhà máy điện đó.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được Chính phủ giao làm chủ đầu tư sáu nhà máy nhiệt điện chạy bằng than, với tổng công suất 7.800 megawat. Trong đó, chỉ có hai nhà máy được bố trí sử dụng than sản xuất trong nước, còn lại phải dựa vào nguồn nhập khẩu. Khi các nhà máy điện này được lần lượt đưa vào khai thác, đến năm 2018 mỗi năm PVN phải nhập được 13,5 triệu tấn than. Đây là một thách thức không nhỏ.
Cạnh tranh rất quyết liệt
Từ năm 2009, PVN đã thành lập Công ty Nhập khẩu và Phân phối than dầu khí (PV Coal), với nhiệm vụ then chốt là tìm kiếm và bảo đảm nguồn cung cấp than dài hạn, ổn định cho các nhà máy điện của ngành dầu khí. Cho đến nay, PV Coal mới ký được hai hợp đồng khung với tập đoàn Sojitz (Nhật Bản) và Ensham Coal của Úc. Để có đủ lượng than theo yêu cầu kể trên, PV Coal còn phải tìm được nhiều nhà cung cấp khác. Theo Bộ Công Thương, trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam năm 2011, điện sản xuất từ than chỉ chiếm khoảng 18%, thủy điện vẫn là nguồn lớn nhất với 46,72% và còn lại là điện chạy bằng khí đốt.
Hiện nay, khả năng phát triển thủy điện đã gần tới hạn. Nguồn khí đốt khai thác hiện không đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước, nên cũng khó phát triển thêm nguồn nhiệt điện chạy bằng khí. Vì vậy, an ninh năng lượng cho Việt Nam trong tương lai sẽ phụ thuộc nhiều vào việc có bảo đảm được nguồn cung cấp than cho nhu cầu của ngành điện hay không. Bộ Công Thương dự báo, đến năm 2020 nhiệt điện chạy than sẽ chiếm 45% tổng c ông suất nguồn và tăng lên 51% vào năm 2030. Sự thay đổi tỷ lệ đó dẫn đến nhu cầu nhập than tăng vọt, từ 4-8 triệu tấn/năm vào năm 2015, năm năm sau vọt lên 44-56 triệu tấn/năm và đến năm 2030 là 149-190 triệu tấn. Nhu cầu này tương đương một phần ba tổng lượng than xuất khẩu của hai nước xuất khẩu lớn nhất thế giới là Úc và Indonesia trong năm 2010.
Hiện nay, hy vọng vào nguồn than nhập khẩu của Việt Nam gần như đổ dồn vào Úc và Indonesia. Hai quốc gia này đã xuất khẩu hơn 470 triệu tấn vào năm ngoái. Nhưng không chỉ có Việt Nam, các đối thủ nặng ký khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan cũng đang cạnh tranh để có nguồn cung này. PV Coal cho biết, thị trường than trên thế giới trong những năm qua luôn diễn ra sự cạnh tranh rất quyết liệt, đặc biệt là từ các nước tiêu thụ than hàng đầu kể trên. Sắp tới, nhất là sau sự cố xảy ra ở các nhà máy điện hạt nhân của Nhật Bản, có thể nhiều quốc gia sẽ quay lưng lại với điện hạt nhân và hướng tầm ngắm tới than. Lúc ấy, việc cạnh tranh để giành lấy nguồn nhập khẩu than sẽ còn quyết liệt hơn. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm nguồn nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu khổng lồ, đến 149-190 triệu tấn/năm, là vô cùng khó khăn.
Giải pháp là giảm lãng phí
Nhập khẩu than là điều không thể tránh đối với Việt Nam, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể giảm bớt nhu cầu này và chìa khóa chính là giảm tình trạng lãng phí đang diễn ra tràn lan từ khâu khai thác than, đến sản xuất và tiêu thụ điện.
Vấn đề hạn chế xuất khẩu than, để dành cho nhu cầu trong nước đã được nói đến từ nhiều năm nay, nhưng tình hình vẫn chưa xoay chuyển. Năm ngoái, Việt Nam vẫn xuất khẩu hơn 19 triệu tấn than, chủ yếu sang Trung Quốc. Tính cho cả năm năm vừa qua, Việt Nam đã xuất gần 100 triệu tấn. Đây là một nghịch lý. Đáng lo hơn là số lượng than khổng lồ bị thất thoát trong quá trình khai thác.
Thực tế cho thấy để giải bài toán năng lượng cho nhu cầu của quốc gia, không thể chỉ chạy theo nhu cầu nhập khẩu, mà còn phải giải quyết tình trạng lãng phí, thất thoát năng lượng.
Theo Viện Nghiên cứu phát triển, tỷ lệ than bị thất thoát trong khai thác hầm lò của Việt Nam lên đến 40-60%, nghĩa là mất đi đến một nửa. Tình trạng này một phần do công nghệ khai thác lạc hậu, nhưng cũng có thể có nguyên nhân khác. Mới đây, trong đợt thanh tra tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Thanh tra Chính phủ đã phát hiện số lượng than tận thu không có nguồn gốc để xuất khẩu đến hơn 3,8 triệu tấn của hai doanh nghiệp Indevco và Hải Đăng. Indevco được TKV cho tận thu than từ bã xít và đất đá kẹp than, nhưng tỷ lệ than thu hồi từ sự tận thu này lên đến 30,75%!
Ở các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than cũng lãng phí tương tự. Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, cho biết ở Việt Nam mức tiêu thụ than cho một đơn vị sản phẩm gấp 1,5 lần so với nhiều nước trên thế giới. Nguyên nhân cũng là ở công nghệ và kỹ năng vận hành nhà máy.
Còn ở lĩnh vực tiêu thụ, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia sử dụng điện lãng phí nhất trong khu vực. Các cuộc khảo sát của Bộ Công Thương trước đây đã cho thấy, tiềm năng tiết kiệm điện ở Việt Nam đến 20-30%.
Thực tế trên cho thấy, để giải bài toán năng lượng cho nhu cầu của quốc gia, không thể chỉ chạy theo nhu cầu nhập khẩu, mà còn phải giải quyết tình trạng lãng phí, thất thoát năng lượng. Nếu giảm mức tiêu thụ than cho các nhà máy nhiệt điện xuống bằng với các nước tiên tiến trên thế giới, là đồng nghĩa với giảm một phần ba nhu cầu tiêu thụ than. Cũng vậy, mỗi một phần trăm thất thoát giảm đi trong quá trình khai thác than, là có thêm hàng trăm ngàn tấn than cung cấp cho nhu cầu của quốc gia.
Năng lượng là mặt hàng có ý nghĩa sống còn với nền kinh tế. Việc giảm tiêu hao, thất thoát, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng không chỉ giúp Việt Nam giảm bớt sự lệ thuộc vào bên ngoài, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Tấn Đức
TBKTSG









