Ngành dược ì ạch, giá thuốc leo thang -
Bài 2: Sản xuất kiểu... nấu cao!
Mỗi năm ngành dược trong nước nhập khẩu hàng ngàn tấn nguyên liệu từ nước ngoài, đồng nghĩa thất thoát một lượng lớn ngoại tệ. Theo Cục Quản lý dược, với 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, ngành dược Việt Nam lệ thuộc phần lớn vào nước ngoài. Giá trị nhập khẩu thuốc của Việt Nam năm 2010 xấp xỉ 1,2 tỷ USD, trong đó phần nguyên liệu lên tới gần 300 triệu USD.
Bế tắc nguyên liệu
Được đánh giá là công ty sản xuất thuốc kháng sinh hàng đầu trong cả nước nhưng Công ty CP Dược phẩm MEKOPHAR (HOSE: MKP) cũng không khỏi lận đận do thị trường nguyên liệu liên tục biến động trong những năm gần đây.
Theo DS Huỳnh Thị Lan, Tổng Giám đốc MEKOPHAR, từ năm 2004 công ty đã nâng công suất nhà máy lên 400 tấn/năm để phục vụ nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, do cạnh tranh về giá cả hàng ngoại nhập từ Ấn Độ và Trung Quốc, sản lượng tiêu thụ trong nước không lên cao được và chưa đáp ứng nhu cầu. Chẳng hạn tổng sản lượng kháng sinh Amox năm 2009 là 100,6 tấn trong khi nhu cầu trong nước về nguyên liệu Amoxicillin là 489,344 tấn. Tương tự là Ampi với nguyên liệu là Ampicillin.
Cùng hoàn cảnh, nhiều công ty dược khác trong các năm qua, nhất là năm 2010 hết sức thụ động trước thị trường nguyên liệu. Là một doanh nghiệp dược lớn về sản xuất cũng như nhập khẩu, Công ty CP Y dược phẩm Vimedimex (HOSE: VMD) đang cung ứng khá nhiều loại thuốc cho thị trường trong nước. Tuy nhiên, đứng trước tình trạng ngoại tệ quy đổi tăng cao cũng như các nguyên liệu đầu vào tăng giá, công ty không khỏi băn khoăn.
Dược sĩ Nguyễn Tiến Hùng, Tổng Giám đốc Vimedimex, cho biết đã “bể” không ít hợp đồng sản xuất thuốc do bế tắc nguyên liệu đầu vào. Điều đáng nói, theo các doanh nghiệp dược, giá nguyên liệu nhập khẩu liên tục được đối tác thay đổi tăng cao. Thậm chí một số doanh nghiệp dược không thể mua nổi nguyên liệu và đành “treo” xưởng sản xuất. Lãnh đạo một công ty dược trong nước cho biết hiện phần lớn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước châu Âu. Kể cả tá dược cũng nhập khẩu.
Theo các chuyên gia dược liệu, đến nay, đánh giá chung cho thấy công nghiệp hóa dược Việt Nam còn yếu và chậm phát triển, hầu hết sản phẩm thuốc, hóa chất cho công nghiệp hóa dược phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Trị giá nhập khẩu thuốc và nguyên liệu của Việt Nam gia tăng qua mỗi năm - theo thống kê của Bộ Công thương, năm 2009 lên tới 1,17 tỷ USD, trong đó phần nguyên liệu lên tới 267 triệu USD. Năm 2010 xấp xỉ 1,2 tỷ USD, trong đó nguyên liệu gần 300 triệu USD.
Trong khi đó, khả năng phát triển nguồn dược liệu trong nước gần như giậm chân tại chỗ. Theo Bộ Y tế, hiện Việt Nam đã thống kê được trên 3.000 loài cây trong rừng tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc. Không chỉ một số cây dược liệu chữa được bệnh thông thường mà có thể nghiên cứu, phát triển thành những loại thuốc có tác dụng chữa các bệnh nan y. Tuy nhiên, hiện ngoài rất ít công ty dược phẩm trong nước đầu tư phát triển manh mún vùng nguyên liệu để “tự cung tự cấp” một phần như Vimedimex, Imexpharm, còn lại hầu như trông chờ vào nguyên liệu nhập khẩu.
Nấu cao... đóng gói
Thực tế cho thấy, hầu hết công ty sản xuất dược trong nước hiện rất ngại, nếu không nói là sợ đánh giá tương đương sinh học. Theo các chuyên gia, không phải chỉ sợ tốn kém mà sợ chất lượng thuốc không tương đương thuốc gốc thì thật… ê mặt.
Dược sĩ chuyên khoa II Trần Tựu, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Dược phẩm SAVIPHARM, phát biểu trong một hội nghị gần đây rằng các doanh nghiệp dược trong nước có những bước phát triển mạnh trong đầu tư sản xuất thuốc, nhưng vẫn chưa thể đáp ứng xu thế mô hình bệnh tật và xu hướng sử dụng thuốc đã có nhiều thay đổi, trong khi hầu như nguồn nguyên liệu đều phụ thuộc vào nước ngoài.
PGS-TS Lê Văn Truyền, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cũng khẳng định trình độ công nghiệp dược Việt Nam vẫn “lép vế” so với các nước. “Lâu nay nói là công nghiệp dược nhưng thực tế nhiều công ty hiện vẫn dùng công nghệ lạc hậu và không khác gì nấu cao thuốc”, một chuyên gia dược học thẳng thắn.
Với hơn 180 công ty sản xuất thuốc trong nước, nhưng theo danh sách của Cục Quản lý dược hiện chỉ mới 98 công ty đạt chuẩn Thực hành tốt sản xuất (GMP-WHO). Như vậy, gần 50% công ty sản xuất thuốc trong nước còn lại vẫn trong tình trạng… khó kiểm soát được chất lượng sản phẩm. Nếu thực sự làm một cuộc điều tra cặn kẽ, không ít công ty dược hiện chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đã tinh chế từ nước ngoài về rồi xử lý qua các khâu cô đặc hoặc hóa lỏng và đóng vỉ, chai. Còn nghiên cứu sản xuất thuốc mới gần như đếm trên đầu ngón tay.
Theo PGS-TS Lê Văn Truyền, trong giai đoạn 2001 - 2009, Việt Nam chỉ có 13 bằng độc quyền sáng chế thuốc, trong khi nước ngoài có tới 1.198 bằng độc quyền sáng chế được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Mặc dù doanh số thuốc nội địa đã có tăng nhờ mức độ tiêu thụ tăng lên và đã đạt trên 700 triệu USD vào năm 2010 (tăng 4 lần so với năm 2001), nhưng chưa thể khẳng định rằng ngành dược trong nước đã phát triển vượt bậc. Bằng chứng cả năm 2010, ngành dược trong nước có gần 9.000 số đăng ký thuốc thì thuốc nhập ngoại cũng đăng ký con số tương đương.
Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO), Việt Nam đang đứng ở mức 2-3 trong tổng số 5 mức phát triển công nghiệp dược, tức chỉ mới dừng lại đóng gói bán thành phẩm nhập khẩu, gia công; công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập. Còn theo phân loại mức phát triển công nghiệp dược của WHO, Việt Nam đang đứng ở mức 2,5-3 trong tổng số 4 mức: sản xuất được một số thuốc generic, đa số phải nhập khẩu, có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic, xuất khẩu được một số dược phẩm.
Tường Lâm
Sài Gòn giải phóng









