Bổ sung ba nhóm đối tượng đăng ký thuế: Bước hoàn thiện quản lý thuế trong thời kỳ chuyển đổi số
Bộ Tài chính mới đây ban hành Thông tư 90/2026/TT-BTC quy định về đăng ký thuế, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Thông tư 86/2024/TT-BTC, nhằm hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15 và Nghị định 252/2026/NĐ-CP, trong đó đáng chú ý là bổ sung các trường hợp phải đăng ký thuế.
Nội dung quy định về việc bổ sung đối tượng đăng ký thuế
Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 90/2026/TT-BTC quy định chi tiết các đối tượng thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế, bao gồm:
a) Doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực chuyên ngành không phải đăng ký doanh nghiệp qua cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật chuyên ngành (sau đây gọi là Tổ chức kinh tế);
b) Đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế của lực lượng vũ trang, tổ chức kinh tế của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội, xã hội - nghề nghiệp hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật nhưng không phải đăng ký doanh nghiệp qua cơ quan đăng ký kinh doanh; tổ chức của các nước có chung đường biên giới đất liền với Việt Nam thực hiện hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu; văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; tổ hợp tác được thành lập và tổ chức hoạt động theo quy định tại Nghị định 77/2019/NĐ-CP về tổ hợp tác nhưng không thuộc trường hợp đăng ký kinh doanh qua cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Luật Hợp tác xã 17/2023/QH15 (sau đây gọi là Tổ chức kinh tế);
c) Tổ chức được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền không có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng phát sinh nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước (sau đây gọi là Tổ chức khác);
d) Người nộp thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng trong các trường hợp (sau đây gọi là Tổ chức khác), bao gồm:
d.1) Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam; Chủ chương trình, dự án, phi dự án hoặc nhà thầu chính (bao gồm cả Văn phòng điều hành của nhà thầu chính tại Việt Nam), tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án sử dụng vốn ODA (bao gồm cả Văn phòng đại diện của nhà tài trợ hoặc tổ chức quản lý, thực hiện chương trình, dự án do nhà tài trợ chỉ định);
d.2) Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng;
đ) Tổ chức nước ngoài có phát sinh doanh thu tại Việt Nam thông qua hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Nghị định 252/2026/NĐ-CP (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài).
Nhà cung cấp nước ngoài không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế trong trường hợp toàn bộ doanh thu phát sinh tại Việt Nam đã được khấu trừ, nộp thay thuế;
e) Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán theo quy định tại Điều 42 Nghị định 252/2026/NĐ-CP;
g) Tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam (trừ nhà cung cấp nước ngoài quy định tại điểm đ khoản này), cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh tại Việt Nam (trừ cá nhân không cư trú quy định tại điểm e khoản này) phù hợp với pháp luật Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam hoặc có phát sinh nghĩa vụ thuế tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài);
h) Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế khác (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân khấu trừ nộp thay) trong các trường hợp sau:
h.1) Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khấu trừ và nộp thay thuế cho nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài;
h.2) Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ và nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài;
h.3) Chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác ở trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán theo quy định tại Điều 43 Nghị định 252/2026/NĐ-CP khấu trừ và nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú);
h.4) Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khấu trừ và nộp thay thuế cho cá nhân có hợp đồng hoặc văn bản hợp tác kinh doanh;
Riêng tổ chức chi trả thu nhập khi khấu trừ, nộp thay thuế thu nhập cá nhân sử dụng mã số thuế đã cấp của tổ chức chi trả thu nhập để khai, nộp thuế thu nhập cá nhân khấu trừ, nộp thay;
i) Công ty điều hành chung, văn phòng điều hành, tổ chức được người điều hành phân công, ủy quyền điều hành dự án dầu khí theo quy định của pháp luật dầu khí (gọi chung là người điều hành); doanh nghiệp liên doanh; tổ chức được Chính phủ Việt Nam giao nhiệm vụ tiếp nhận phần được chia của Việt Nam thuộc các mỏ dầu khí tại vùng chồng lấn; nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí; công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam đại diện nước chủ nhà nhận phần lãi được chia từ các hợp đồng dầu khí;
k) Hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không phải đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp; cá nhân kinh doanh của các nước có chung đường biên giới đất liền với Việt Nam thực hiện hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu;
l) Cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân (trừ cá nhân kinh doanh);
m) Cá nhân là người phụ thuộc theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân;
n) Tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế ủy nhiệm thu;
o) Tổ chức kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu;
p) Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác có nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.
Như vậy, ngoài các nhóm đối tượng đã được quy định từ trước theo Thông tư 86/2024/TT-BTC, thì Thông tư 90/2026/TT-BTC đã bổ sung thêm ba nhóm đối tượng hoàn toàn mới tại điểm e, điểm h.3 và điểm o.
Cụ thể gồm: Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán; chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác ở trong nước có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ và nộp thay thuế; tổ chức kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu. Việc bổ sung các đối tượng này thể hiện định hướng tăng cường quản lý thuế đối với các hoạt động xuyên biên giới và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ.
Tác động của việc mở rộng đối tượng đăng ký thuế
Khi bổ sung các nhóm đối tượng phải đăng ký thuế đồng nghĩa với việc các tổ chức, cá nhân thuộc diện điều chỉnh cần chủ động rà soát hoạt động của mình để xác định có thuộc trường hợp phải đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế hay không. Nếu thuộc diện phải đăng ký nhưng không thực hiện đúng thời hạn hoặc không thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Quy định mới giúp tăng cường khả năng quản lý thuế đối với nền kinh tế số. Khi hoạt động kinh doanh môi trường trực tuyến ngày càng phổ biến, nhiều giao dịch được thực hiện không thông qua địa điểm kinh doanh truyền thống. Quy định về đăng ký thuế đối với các chủ thể mới, cơ quan thuế có điều kiện thu thập dữ liệu đầy đủ hơn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và chống thất thu ngân sách.
Hơn nữa, việc yêu cầu các nền tảng thương mại điện tử thực hiện đăng ký thuế và thực hiện nghĩa vụ khấu trừ, kê khai, nộp thuế thay góp phần nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế. Khi nghĩa vụ thuế được thực hiện ngay tại nguồn thanh toán, khả năng bỏ sót doanh thu hoặc không kê khai thuế sẽ giảm đáng kể. Cơ chế này cũng tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh khi giảm bớt các thủ tục hành chính phải thực hiện trực tiếp với cơ quan thuế.
Ngoài ra, các quy định mới còn góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu người nộp thuế thống nhất, đầy đủ và chính xác hơn. Đây là nền tảng quan trọng để ngành thuế tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và quản lý rủi ro trong công tác quản lý thuế.
Nhìn chung, Thông tư 90/2026/TT-BTC đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của hệ thống pháp luật quản lý thuế trong giai đoạn mới. Việc bổ sung ba nhóm trường hợp phải đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế cho thấy chính sách thuế đang từng bước thích ứng với phát triển của nền kinh tế số, sự gia tăng của các hoạt động kinh doanh xuyên biên giới và yêu cầu hội nhập về quản lý thuế quốc tế.
So với Thông tư 86/2024/TT-BTC, phạm vi điều chỉnh của Thông tư 90/2026/TT-BTC đã được mở rộng theo hướng bao quát hơn, hiện đại và phù hợp hơn với thực tiễn. Các quy định mới không chỉ tạo cơ sở pháp lý để cơ quan thuế quản lý hiệu quả các mô hình kinh doanh mới mà còn góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các chủ thể kinh doanh dù hoạt động theo phương thức truyền thống hay trên môi trường số. Việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các thủ tục đăng ký thuế không chỉ bảo đảm tuân thủ pháp luật mà còn giúp người nộp thuế hạn chế rủi ro pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng










