Cái giá của mậu dịch tự do
Ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở thành xu thế trong quan hệ kinh tế quốc tế. Song một xu thế đáng lo ngại hiện nay là các cường quốc đang sử dụng FTA như một công cụ để tác động tới các quyết định chính trị của nước khác.
Ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở thành xu thế trong quan hệ kinh tế quốc tế. Song một xu thế đáng lo ngại hiện nay là các cường quốc đang sử dụng FTA như một công cụ để tác động tới các quyết định chính trị của nước khác.
Trong bối cảnh cuộc chiến giành vị trí thống trị khu vực về mặt kinh tế giữa các nước lớn ngày càng trở nên quyết liệt, cuộc đua ký kết các hiệp định thương mại tự do khu vực (FTA) đã tiến đến mức độ cao hơn. Trong giai đoạn mới, hệ thống mậu dịch đa phương toàn cầu tạm thời suy yếu, nhường chỗ cho hệ thống mậu dịch khu vực. Thế nhưng, nhiều nhà kinh tế cho rằng, yếu tố chính trị ẩn sau các văn kiện đang khiến hệ thống thương mại khu vực diễn ra theo chiều hướng ngày càng không có lợi.
Ngày nay, gần 55% giao dịch thương mại trên phạm vi toàn cầu diễn ra trong khuôn khổ các hiệp định mậu dịch tự do song phương, nhưng các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về lợi ích của chúng. Một số nhìn nhận các FTA song phương như những nấc thang tiến tới một hệ thống mậu dịch tự do hơn vì chúng dễ thương lượng và có thể đạt được nhiều thành quả hơn so với các hiệp định đa phương, trong khi một số khác coi đó là chướng ngại vật bởi chúng làm cho hệ thống mậu dịch toàn cầu trở nên phức tạp hơn.
Nhưng không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của FTA đối với các quốc gia. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh những nhà xuất khẩu từ các nước ở tầm "trung bình" vốn phải đối mặt với quá nhiều luật lệ phức tạp. Chẳng hạn, họ phải vượt qua được quy định xuất xứ và hàng nghìn quy định đối với sản phẩm trong việc áp dụng tỷ lệ ưu đãi thuế quan. Lấy Thái Lan làm ví dụ. Khi các công ty của nước này xuất khẩu hàng hóa tới Australia, họ sẽ được hưởng thuế quan ưu đãi theo hiệp định thương mại tự do Australia - Thái Lan, thuế quan ưu đãi Australia - ASEAN và thuế quan ưu đãi của Australia đối với các nước đang phát triển. Nhiều nhà kinh tế cho rằng FTA giống như các băng đảng đường phố, nếu tất cả những người khác đều là thành viên của một trong các tổ chức đó, bạn cũng nên có mặt trong một băng đảng để được bảo vệ.
Mỹ vẫn là nước đi đầu trong việc sử dụng chính sách thương mại để hỗ trợ và củng cố chính sách đối ngoại. Những động thái gần đây của họ là minh chứng cụ thể nhất. Những đồng minh ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến của Mỹ tại
Chiến lược sử dụng chính sách mậu dịch để hỗ trợ và củng cố chính sách đối ngoại của chính quyền Mỹ chẳng có gì mới. Hiệp định mậu dịch tự do đầu tiên của Mỹ được ký năm 1985 với Israel, một quốc gia được coi là mắt xích quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Lợi ích kinh tế đối với Mỹ thì đã quá rõ; nhưng lợi ích địa chính trị thì lớn hơn nhiều. Chúng ta đều hiểu rằng cường quốc giàu nhất thế giới này muốn củng cố vị trí của mình tại Trung Đông, và muốn như thế thì phải xây dựng cho đồng minh của họ một nền kinh tế vững mạnh. Những FTA gần đây với
Các hiệp định ở Đông Bắc Á có thể diễn ra theo xu hướng tương tự. Trung Quốc và Nhật Bản ý thức rõ ràng rằng muốn đạt được vai trò thống trị trong nền kinh tế khu vực, họ phải kiểm soát được xu hướng hội nhập kinh tế khu vực. Hàn Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và New Zealand đã và đang bị lôi kéo vào cuộc chạy đua khi 2 cường quốc này cạnh tranh với nhau.
Những ngày đầu tháng 7, Nhật Bản chứng kiến một thành quả to lớn của Trung Quốc khi quốc gia đông dân nhất thế giới này thực thi hiệp định Khu vực tự do thương mại Asean - Trung Quốc (ACFTA), theo đó hai bên sẽ giảm thuế ngay lập tức đối với hơn 7.000 sản phẩm và sẽ miễn thuế hoàn toàn vào năm 2010. Giai đoạn tiếp theo của ACFTA sẽ là tự do hóa đầu tư và dịch vụ. Những lợi ích địa chính trị mà Trung Quốc có được trong ACFTA quả thực là rất lớn. Với một hệ thống Hoa kiều đông đảo khắp mọi nơi ở các nước ASEAN và có tiềm lực kinh tế khá mạnh, ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc sẽ lớn mạnh một cách tự nhiên. Trong khi đó, những cuộc đàm phán hướng tới hiệp định Nhật Bản-ASEAN mới chỉ bắt đầu và việc thực thi đầy đủ chỉ có thể xảy ra vào năm 2012.
Chưa được xếp vào nhóm nước phát triển, song Trung Quốc rõ ràng là đã đi trước Nhật Bản trong việc mở rộng ảnh hưởng kinh tế. Tầm quan trọng và quy mô của nền kinh tế của nước này đối với đối với khu vực đã góp phần đáng kể vào việc mang đến vị thế chính trị, từ đó lại thúc đẩy mậu dịch phát triển. Quốc gia 1,3 tỷ dân nhanh chóng trở thành đối tác thương mại quan trọng đối với từng nước trong khu vực. Các nhà phân tích dự đoán rằng nếu xu hướng này còn tiếp tục, thì khả năng Trung Quốc nghĩ đến việc sử dụng các hiệp định thương mại như là những công cụ đối ngoại sẽ ngày càng lớn.
Tuy là nước đi sau, song Trung Quốc tỏ ra linh hoạt về mặt chiến lược hơn Mỹ khi lôi kéo được New Zealand, nước mà Mỹ từ chối đàm phán để ký kết FTA, tham gia từng bước vào chiến lược của họ. Đây là quốc gia phương Tây đầu tiên ký kết thỏa thuận song phương với Bắc Kinh về việc gia nhập WTO và công nhận Trung Quốc là nền kinh tế thị trường.
Trung Quốc cũng quan tâm đến
Qua trường hợp của
VnE









