CEO Nestlé: Nhà đầu tư e ngại nhất sự bất ổn khó dự báo
Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob cho rằng ưu đãi giờ chỉ còn là yếu tố bổ trợ. Với các tập đoàn toàn cầu, định hướng dài hạn, chính sách minh bạch và có thể dự báo, nguồn nhân lực cùng hệ sinh thái phụ trợ mới quyết định việc duy trì và mở rộng đầu tư.
Sau khoảng 30 năm hiện diện tại Việt Nam, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob cho rằng cách các tập đoàn toàn cầu chọn nơi đầu tư đã thay đổi. Những ưu đãi từng giữ vai trò lớn trong cuộc đua hút vốn nay không còn là lý do cốt lõi để một doanh nghiệp quyết định ở lại lâu dài hay tiếp tục mở rộng quy mô.
Quan điểm được ông Binu Jacob chia sẻ tại Tọa đàm “Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 07/08. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu chuyển từ thu hút vốn nước ngoài chủ yếu theo quy mô sang chú trọng chất lượng, khả năng lan tỏa công nghệ và mức độ gắn kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Theo CEO Nestlé Việt Nam, từ khi cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, ưu đãi đầu tư càng không còn là yếu tố quyết định duy nhất.
“Các ưu đãi chỉ đóng vai trò như yếu tố gia tăng bổ trợ, chứ không phải là lý do cốt lõi hay dài hạn để các tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư”, ông Binu Jacob nói.
Điều được các tập đoàn như Nestlé đặt lên trước là niềm tin vào định hướng chiến lược của quốc gia. Kế đến là một khuôn khổ chính sách minh bạch, ổn định và đủ khả năng để doanh nghiệp nhìn thấy trước đường đi trong nhiều năm, thay vì liên tục phải ứng phó với những thay đổi khó lường.
Ông Jacob cho rằng chính sách có thể thay đổi trong quá trình phát triển, nhưng việc điều chỉnh cần đi theo một lộ trình mà doanh nghiệp có thể dự báo. “Điều các nhà đầu tư e ngại nhất chính là sự thiếu chắc chắn và tính bất ổn không thể dự báo”, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam nhận định.
Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, chia sẻ tại tọa đàm chiều 07/08 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
|
Hai điều kiện khác được ông đặt cạnh chính sách là nguồn nhân lực và hệ sinh thái phụ trợ. Một tập đoàn có thể xây nhà máy, mang công nghệ và vốn vào Việt Nam, nhưng để duy trì hoạt động dài hạn còn cần lao động đáp ứng yêu cầu, doanh nghiệp cung ứng đủ năng lực, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và mạng lưới đối tác có thể làm việc cùng nhau.
Theo ông Jacob, hệ sinh thái tại Việt Nam hiện chưa đáp ứng đầy đủ mọi kỳ vọng của nhà đầu tư, song mối liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam, cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu đang dần hình thành. Phần còn lại nằm ở môi trường để doanh nghiệp trong nước đủ sức trở thành những đối tác mà các tập đoàn toàn cầu có thể tin cậy.
Niềm tin cũng là lý do doanh nghiệp FDI thường khó rời những nhà cung cấp đã đi cùng họ nhiều năm. Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Bùi Thu Thủy cho biết khi vào Việt Nam, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc mang theo hệ thống nhà cung cấp quen thuộc. Sau thời gian dài hợp tác và đánh giá lẫn nhau, họ thường không muốn đổi sang một đối tác mới chỉ vì chi phí thấp hơn.
Ở phía doanh nghiệp Việt Nam, khoảng cách lại nằm ở vốn, quản trị và công nghệ. Số doanh nghiệp đủ sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của tập đoàn FDI còn hạn chế, khiến mong muốn kéo khu vực trong nước vào sâu hơn trong chuỗi sản xuất nhiều năm qua chưa đạt như kỳ vọng.
Thực tế này hiện diện khá rõ tại Hưng Yên. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Quang Hòa cho biết một số khu công nghiệp như Sumitomo hầu như chỉ có doanh nghiệp Nhật Bản, chưa có doanh nghiệp Việt Nam tham gia. Tỉnh đang tính hướng khác với những khu công nghiệp mới: bố trí doanh nghiệp trong nước cùng ngành vào chung hệ sinh thái để họ có cơ hội tiếp cận chuỗi sản xuất của các nhà đầu tư ngoại.
Từ một chiếc xe đến đội vận tải 50 chiếc
Nestlé đưa ra chính câu chuyện của mình để mô tả cách mối liên kết này có thể hình thành. Khi mới hoạt động tại Việt Nam, tập đoàn hợp tác với một doanh nghiệp vận tải trong nước có quy mô chỉ một đầu xe và năng lực quản trị còn hạn chế.
Thay vì chỉ thuê xe khi có hàng cần chở, Nestlé chia sẻ với đối tác cách quản trị, kiểm soát chất lượng, bảo vệ môi trường và những kỹ thuật trong vận tải như chuẩn hóa pallet để tăng lượng hàng trên mỗi chuyến. Theo ông Jacob, doanh nghiệp này sau đó phát triển từ một đầu xe lên đội xe 50 chiếc và từ chỗ chỉ phục vụ Nestlé đã có thêm 5 khách hàng lớn khác.
Một câu chuyện khác kéo dài hơn 20 năm nằm ở ngành cà phê. Nestlé phối hợp với cơ quan quản lý, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên và người trồng cà phê, kết hợp kết quả nghiên cứu từ nước ngoài với điều kiện tại Việt Nam để chọn tạo giống.
Theo ông Jacob, các giống được đưa vào sản xuất có khả năng thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng và biến đổi khí hậu, giảm nhu cầu nước tưới, phân bón. Năng suất của những hộ nông dân tham gia dự án hiện cao gấp 3 lần mức trung bình.
Những ví dụ này cũng lý giải vì sao CEO Nestlé Việt Nam đề nghị thay đổi cách nhìn về khu vực vốn ngoại. Thay vì coi họ đơn thuần là “nhà đầu tư nước ngoài” - một chủ thể đi vào một thị trường rồi có thể rời đi - ông muốn dùng những cách gọi như “đối tác FDI” hay “đối tác đầu tư”.
“Chúng tôi thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai”, ông Jacob nói.
Phía cơ quan quản lý cũng đang tính cách thay đổi chính sách theo hướng này. Bà Bùi Thu Thủy cho biết Nghị quyết 10 không đi theo hướng bắt buộc doanh nghiệp FDI phải đạt một tỷ lệ nội địa hóa, dùng nhà cung ứng Việt Nam hay phải chuyển giao công nghệ bằng các mệnh lệnh hành chính. Hướng được Bộ Tài chính nghiên cứu là dùng ưu đãi và hỗ trợ để khiến việc đào tạo, chuyển giao và tìm nhà cung ứng trong nước trở nên hấp dẫn hơn đối với chính các tập đoàn ngoại.
Một trong những phương án được bà Thủy nêu là để doanh nghiệp FDI trực tiếp lựa chọn và đào tạo doanh nghiệp Việt Nam theo tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng mà họ đang vận hành. Nếu một doanh nghiệp ngoại bỏ 10 tỷ đồng cho hoạt động này, Nhà nước có thể hỗ trợ lại khoảng 30-50%, cho phép khấu trừ thuế hoặc áp dụng hình thức bù đắp phù hợp khác.
Bộ Tài chính dự kiến kiến nghị thể chế hóa các chính sách liên quan trong những luật sắp sửa đổi và trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10. Cùng với chi phí đào tạo, các khoản chi cho nghiên cứu và phát triển cũng nằm trong nhóm được tính toán để có cơ chế khuyến khích.
Với Nestlé, ông Jacob cho rằng quan hệ dài hạn giữa hai phía phải đi cùng cam kết cụ thể. Chính phủ tiếp tục đầu tư hạ tầng, giữ chính sách có thể dự báo và hoàn thiện môi trường kinh doanh; doanh nghiệp FDI đưa ra các cam kết đầu tư, chuyển giao tri thức, công nghệ và nâng năng lực cho hệ thống đối tác.
Sau ba thập kỷ hoạt động tại Việt Nam, vị Tổng Giám đốc Nestlé đặt tên cho mối quan hệ ông mong muốn khá ngắn gọn: “đối tác đầu tư”.
Tử Kính (Theo Thông tin Chính phủ)









