Chống lạm phát, cần cơ chế “dài hơi” hơn
Lạm phát và lãi suất là hai vấn đề "nóng" nhất tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam diễn ra cuối tuần trước tại Hà Nội. Hầu hết diễn giả đều đồng tình với mục tiêu và các giải pháp kiềm chế lạm phát hiện nay. Tuy nhiên, các diễn giả cũng cho rằng, đó mới chỉ là các giải pháp mang tính tình thế, gây tác động "giật cục" đối với thị trường.
Các diễn giả khuyến nghị, Chính phủ cần sớm đưa ra gói giải pháp nhằm giải quyết tận gốc vấn đề…
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam
Chính phủ đã nghĩ tới việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế và phần nào được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được Đại hội Đảng XI đề ra. Tuy nhiên, các bạn sẽ cần thêm một số giải pháp cụ thể hơn ở tầm trung hạn, trong giai đoạn từ nay đến 2015. Trong ngắn hạn, lãi suất vẫn sẽ có xu hướng đi lên vì lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức cao, do đó, chính sách tiền tệ vẫn cần tiếp tục được thắt chặt. Chúng ta rất hiểu những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong điều kiện lãi suất cao. Tuy nhiên, cần thấy rằng, mục tiêu tối thượng hiện nay là kiềm chế lạm phát. Khi các điều kiện vĩ mô ổn định hơn, lạm phát xuống thấp, tôi cho rằng lãi suất mới có điều kiện hạ. Nhưng ở Việt Nam có một vấn đề là lạm phát kỳ vọng của nền kinh tế là rất cao. Do vậy, nếu muốn ổn định, mức độ lạm phát thấp phải được duy trì trong ít nhất là 12 - 18 tháng. Do đó, các doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị bởi chu kỳ lãi suất cao rất có thể sẽ kéo dài thêm một khoảng thời gian nữa. Việt Nam đã có bài học từ cuối năm 2010, khi chính sách tiền tệ được nới lỏng sớm, lãi suất hạ thì lạm phát lại tăng cao, điều này không nên lặp lại trong năm nay. Bản thân ADB đánh giá rất cao quyết tâm của Chính phủ tại Nghị quyết 11 và thực tế những giải pháp đề ra đã phát huy tác dụng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần thêm thời gian. Theo nghiên cứu của chúng tôi thì lạm phát của Việt Nam vẫn sẽ ở mức cao cho đến tháng 8. Lạm phát tính theo năm khi đó khoảng 20%. Do đó, nếu thực sự muốn kiềm chế lạm phát, lãi suất khó có thể hạ trong những tháng cuối năm nay.
Ông Nguyễn Văn Bình, Phó Thống đốc NHNN Việt Nam
Việt Nam đang phải đối mặt với lạm phát rất cao nên ngay từ đầu năm, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp rất kiên quyết nhằm kiềm chế lạm phát và đã thu được kết quả bước đầu. Dù vậy, chúng tôi cho rằng vẫn phải kiên trì đường lối này cho cả thời gian sắp tới. Do đó, chúng tôi cũng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp chia sẻ chủ trương đó với Chính phủ nói chung và NHNN nói riêng. Để hạn chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đương nhiên là chúng ta phải trả giá nhất định. Hiện nay, Chính phủ cũng như NHNN đang phải chịu áp lực rất mạnh từ phía các doanh nghiệp. Ví dụ, các doanh nghiệp đòi hỏi phải có tăng trưởng tín dụng cao hơn, lãi suất thấp hơn… Những đòi hỏi đó về cơ bản là xứng đáng nhưng nó phải được xét trong bối cảnh Việt Nam đang đương đầu và phải đấu tranh chống lạm phát. Chúng tôi không chấp nhận một mặt bằng lãi suất quá cao, nhưng cũng không chấp nhận một mặt bằng lãi suất quá thấp trong bối cảnh lạm phát tính theo cùng kỳ đã ở mức hai con số. Trong bối cảnh đó, việc đòi hỏi phải có lãi suất thấp để các doanh nghiệp đều có thể tiếp cận là điều không thể. Chúng ta mong muốn có một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao hơn nên bối cảnh hiện này là một thách thức, nhưng cũng là cơ hội tiến hành cấu trúc lại nền kinh tế. Với tinh thần đó, NHNN sẽ cố gắng cân bằng để làm sao vừa bình ổn được kinh tế vĩ mô, chống lạm phát và cũng đảm bảo được điều Chính phủ vẫn nói là đảm bảo được bình ổn xã hội, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.
Ông Matthias Duhn, Giám đốc điều hành Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu (EuroCham)
Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp mạnh, hợp lý như Nghị quyết 11 để kiểm soát lạm phát và đã đạt được nhiều kết quả nhưng chúng tôi lưu ý rằng, Việt Nam hiện đang là một trong năm quốc gia có tỷ lệ lạm phát hàng đầu thế giới và EuroCham dự đoán lạm phát sẽ đạt cao điểm trong quý III/2011 nhưng hy vọng không đi xa hơn 22%.
Thành viên EuroCham đặc biệt lo ngại rằng, mặc dù đồng USD đang yếu nhưng VND là đồng tiền duy nhất trong ASEAN lại liên tục mất giá và cần phải có hành động được thực hiện ngay để lấy lại lòng tin vào đồng VND cả trong và ngoài nước.
Các doanh nghiệp nước ngoài cũng chịu ảnh hưởng của việc tín dụng khó tiếp cận và lãi suất cao. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới việc đầu tư và có thể làm "bốc hơi" tăng trưởng kinh tế. Chính phủ chỉ có thể giải quyết vấn đề lạm phát và tạo niềm tin cho doanh nghiệp nước ngoài bằng việc thực thi các chính sách đã đề ra một cách nhất quán, tin cậy đặc biệt về lãi suất và VND. Nhà đầu tư cần sự chắc chắn và khả năng dự đoán của các quyết định. Trên một mức độ rộng hơn, chúng tôi tin rằng, Chính phủ Việt Nam ưu tiên đầu tư chất lượng cao trong các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng hơn là cho phép những dự án đầu tư đầu cơ ngắn hạn hoạt động. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ chấp nhận tăng trưởng kinh tế sẽ phát triển với một tốc độ chậm hơn một hoặc hai năm để tập trung vào việc phát triển bền vững và ổn định. Do đó EuroCham chào đón điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng xuống 6,2% của Chính phủ.
Ông Benedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam
Tôi nghĩ, điều quan trọng với NHNN lúc này là chuyển sang cơ chế lãi suất sao cho nó phản ánh định hướng chính sách tiền tệ của NHNN và cũng cho phép thị trường hoạt động hiệu quả. Nhìn vào tình hình hiện nay, NHNN đã đạt được những tiến bộ lớn trong việc tăng lãi suất chính sách lên mức hợp lý hơn so với trước đây nhưng vẫn chưa thực sự hoàn thành tiến trình ấy khi nhìn vào các ngân hàng trung ương khác trong khu vực, như Thái Lan. Các quốc gia đó có hành lang khá rõ ràng cho lãi suất ngắn hạn và điều hành chính sách tiền tệ để giữ lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn trong hành lang đó. NHNN cần tiếp tục có thêm các hành động nữa với cấu trúc của lãi suất tái cấp vốn, repo và tái chiết khấu.
Một vấn đề khác là chúng ta vẫn có lãi suất cơ bản và lãi suất này ở xung quanh mức 8-9%/năm. NHNN cho biết họ chưa thay đổi quan điểm của mình. Tuy nhiên, các thị trường chính như thị trường liên ngân hàng vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất cơ bản vì xét một cách hợp pháp, lãi suất cho vay liên ngân hàng có mức trần là 150% của lãi suất cơ bản rõ ràng là một sự méo mó trên thị trường. Dưới cơ chế đó, để cạnh tranh, một số ngân hàng đã phải hoạt động bất hợp pháp vì không ai trong thị trường liên ngân hàng cho vay với lãi suất 13%/năm vì vấn đề thanh khoản. Do đó, các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất lên 18-19%/năm.
Và câu hỏi đặt ra là mức lãi suất này hợp pháp tới mức nào? Không ngân hàng, doanh nghiệp nào muốn ở vào hoàn cảnh như vậy, nhưng họ không thể hoạt động hiệu quả theo luật. Do vậy, cần có một khung cơ chế cho phép mọi doanh nghiệp hoạt động hợp pháp.
Hồng Dung
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN









