Tin tức
Điện, than cam phận “cốc mò cò xơi”

Điện, than cam phận “cốc mò cò xơi”

27/01/2011

Banner PHS

Điện, than cam phận “cốc mò cò xơi”

Năm qua, thép, xi măng vui mừng khi thu về tỷ đô nhờ xuất khẩu, còn than, điện ngậm ngùi cắn răng chịu lỗ vì phải bán dưới giá thành cho 2 ngành này. Trong nghịch lý này, ai được lợi?

Hơn cả sự tăng trưởng của dệt may, da giày, năm 2010, ngành thép thắng lớn khi xuất khẩu kỷ lục nhất từ xưa tới nay với nhóm sắt thép các loại đạt kim ngạch lên tới 1,004 tỷ USD, tăng tới 126,3% và  nhóm các sản phẩm từ thép đã đạt 820 triệu USD tăng tới 35,8% so với năm 2009. Nếu tính về lượng, sắt thép các loại đã xuất khẩu tới 1,3 triệu tấn, tăng 30% so với 2009.

Ngành xi măng năm nay cũng xuất khẩu tới 700.000 tấn clinker và xi măng. Năng lực sản xuất của các nhà máy xi măng hiện có trong năm 2010 đã dư thừa từ 1-2 triệu tấn.

Tuy nhiên, các ngành năng lượng như điện, than nhìn sự vui mừng trên của thép và xi măng như một gánh nặng lo âu, với tiếng thở dài về cái vòng bù lỗ luẩn quẩn kéo dài nhiều năm nay.

Cốc mò cò xơi

“Có cách chức tôi cũng phải nói điều này. Tôi xuống “ghế” thì không ngại mà lo nhất là thế hệ lãnh đạo ngành than về sau sẽ rất khổ. Họ sẽ phải làm thế nào để lo năng lượng cho đất nước khi mà chúng ta sắp tới thiếu than, thiếu điện, trong khi những ngành tiêu thụ điện, than nhiều như thép, xi măng lại tăng cường xuất khẩu!”, Tổng giám đốc Tập đoàn Than - Khoáng sản (Vinacomin) Trần Xuân Hòa bộc trực.

Trong cuộc gặp mặt báo chí hồi tuần trước, ông Hòa bức xúc nhấn mạnh: “Xuất khẩu thép, xuất khẩu xi măng là chúng ta đang xuất khẩu năng lượng rẻ ra nước ngoài! Đây là một vấn đề hết sức nguy kịch cho đất nước”.

Sang sảng cắt nghĩa câu chuyện này, người đứng đầu Tập đoàn Than cho hay, 1 tấn than bán cho xi măng, chỉ thu được 1,5 triệu đồng, nhưng nếu cũng loại than đó mà đem xuất khẩu, đã là giá 3 triệu đồng/tấn.

“Để có thêm 1 tấn than đó, chúng tôi phải chi phí mất 150 triệu USD và con số suất đầu tư đó ngày càng tăng,do khai thác than ngày càng phải xuống sâu”, ông nói. Nhiều năm nay, ngành than vẫn đang phải bán cho xi măng thấp hơn giá thành và cách xa giá xuất khẩu. Mặc dù từ năm 2010, Chính phủ đã cho phép than bán cho xi măng bằng 90% giá xuất khẩu.

Ông Hòa tâm tư: “Ngành thép cũng thế. Một tấn than luyện ra được 300.000-400.000 tấn kim loại. Họ mang đi xuất khẩu cho Hàn Quốc hết. Dùng điện giá rẻ để cán thép mang đi Hàn Quốc thì khác gì chúng ta trợ giá cho những nước giàu có, GDP lớn gấp bội chúng ta?"

Nghịch lý này cũng được Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) phản ánh trong một cuộc họp với Bộ Công Thương trung tuần tháng 1.

Trao đổi với PV Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (VEF), lãnh đạo EVN cho biết, hai ngành thép và xi măng đã tiêu dùng tới hơn 10 tỷ kWh, bằng 12,4% sản lượng điện của cả nước. Một con số quá lớn!

Với giọng rất xót xa, ông nói, trong bối cảnh thiếu điện trầm trọng do hạn hán như năm qua EVN phải phục vụ cho thép, xi măng một lượng điện vượt hơn cả sản lượng 1 năm (theo thiết kế) của thủy điện Hòa Bình (8,6 tỷ kWh) và ngang bằng với sản lượng điện của thủy điện Sơn La tới đây.

Cũng như bài toán của ngành than, suất đầu tư cho nhiệt điện hiện nay không hề rẻ, với khoảng 1.000 USD/kWh.

Chưa hết, năm 2010, giá điện bình quân bán cho các ngành này chỉ “được phép” 909 đồng/kWh, thấp hơn 50 đồng so với giá bình quân chung là 1.060 đồng/kWh và còn … thấp hơn cả điện sinh hoạt. Tính chi ly, ngành điện đã phải thiệt tới hàng trăm tỷ đồng do bán dưới giá thành cho xi măng, thép.

Cùng với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu kỷ lục năm 2010 của thép, xi măng thì nhu cầu dùng điện của hai ngành này cũng đã tăng thêm tới 27,5% so với năm 2009. Trong đó, sản xuất thép tiêu thụ 4,67 tỷ Kwh, chiếm tỷ lệ 5,52% và sản xuất xi măng tiêu thụ 5,52 tỷ kWh, chiếm 6,5% sản lượng điện cả nước.

Vòng luẩn quẩn của cơ chế bù chéo

Theo ông Trần Xuân Hòa, chính sách trợ giá, bù chéo của Chính phủ đối với các ngành công nghiệp nặng này cần phải thay đổi.

Nói tới sự bất hợp lý trong cơ chế bù chéo giá điện, đại diện EVN cho biết, chính sách giá điện Việt Nam là giá điện sinh hoạt được ưu tiên nên tăng thấp, giá điện sản xuất, dịch vụ cao hơn, nhưng đó là cấp hạ áp. Còn xi măng, thép, những ngành tiêu hao điện tốn nhất thì lại dùng cấp cao áp 110kV và theo cấp  điện áp này, giá lại rất rẻ.

Theo biểu giá điện năm 2010, giá điện cho sản xuất ở cấp 110kV vào giờ bình thường là 898 đồng/kWh, giờ thấp điểm chỉ có 496 đồng/kWh. Bởi  lẽ thế, hơn 1 tỷ USD mà ngành thép mang về từ xuất khẩu chỉ gần đủ để xây dựng một nhà máy nhiệt điện 300MW hiện nay mà thôi, và cũng phải chờ 4-5 năm nhà máy này mới.. cho điện.

“Vì sao giá điện cho các ngành đó rẻ như vậy? Là bởi biểu giá của Bộ Công Thương xây dựng như thế, chúng tôi chỉ biết tuân theo, nhưng đây là sự phi lý hết sức”, vị lãnh đạo EVN giãi bày.

Một vòng luẩn quẩn đang diễn ra giữa các ngành kinh tế lớn: ngành than phải bán thấp dưới giá thành tới 30-40% khi bán than cho xi măng, thép và điện, sau đó, lấy tiền xuất khẩu than và hoạt động kinh doanh khác để cân đối lại.

Còn ngành điện, sau khi được than trợ giá lại tiếp tục đi bán "rẻ" cho xi măng và thép và để bù lỗ, ngành điện phải lấy nguồn lợi nhuận từ thủy điện giá rẻ hoặc ngành kinh doanh khác bù vào. Riêng năm qua,  nếu chỉ tính mảng kinh doanh điện, ngành này âm 22.500 tỷ đồng và xem ra, không “nơi nào” bù lỗ nỗi nữa.

Nói cách khác, nếu như ngành thép, xi măng càng phát triển, càng xuất khẩu mạnh thì ngành điện, ngành than… càng lỗ nặng. Nếu điện đang trở nên "quí hiếm" do lỗi tại trời thì rõ ràng, đổi lại cho sự phát triển mạnh mẽ trên của xi măng, thép là nỗi khố khổ bị cắt điện luân phiên của người dân. Sự bất hợp lý này sẽ biến thành khủng hoảng năng lượng khi năm 2011 này, điện vẫn thiếu và phải tiết giảm và cắt luân phiên và năm 2015, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than do thiếu than cho điện.

Chính sách bù giá của điện, của than hiện nay rốt cục lại có lợi cho những ngành công nghiệp “bẩn” mà cung đã vượt xa cầu.

Trước đây, trong các quy hoạch ngành thép và xi măng, Chính phủ chỉ nhắc tới mục tiêu phấn đầu đảm bảo cung cầu trong nước, từng bước tự chủ, giảm nhập khẩu nguyên liệu clinker (cho sản xuất xi măng) và phôi thép (cho sản xuất thép) chứ không hề khuyến khích xuất khẩu.

Nhưng thực tế hiện nay, thép xây dựng, xi măng đều "ra sức" tăng mạnh xuất khẩu. Liệu đây có là một định hướng phù hợp ở một nền kinh tế đang thiếu điện trầm trọng như hiện nay? Một tỷ USD xuất khẩu của ngành thép liệu có đủ bù lại sự tổn hại của hàng nghìn doanh nghiệp và hàng triệu người dân phải sống trong cảnh mất điện triền miên như mùa khô năm 2010?

Câu chuyện này là một minh chứng điển hình cho sức ép gay gắt phải chuyển đổi mô hình, cơ cấu kinh tế theo hướng thay thế dần các ngành có công nghệ lạc hậu, hàm lượng giá trị thấp sang các ngành công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Phạm Huyền

Diễn đàn kinh tế Việt Nam

Banner PHS
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng