Doanh nghiệp nhà nước hết “tự tung tự tác”
Theo Quy chế giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNNN) sẽ được Thủ tướng Chính phủ ban hành trong thời gian tới thì việc giám sát tình hình tài chính đối với DNNN sẽ được thực hiện chặt chẽ hơn nhằm tránh “vết xe đổ” như đã từng xảy ra với Vinashin do việc giám sát, quản lý vốn và tài sản tại DNNN không chặt chẽ và không có bộ, ngành nào chịu trách nhiệm chính trong việc đẩy Vinashin rơi vào tình trạng phá sản.
Việc tăng cường hoạt động giám sát tài chính đối với DNNN, theo Bộ Tài chính là nhằm đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời giúp doanh nghiệp khắc phục tồn tại; nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản; giúp cơ quan quản lý nhà nước kịp thời phát hiện ra những yếu kém để đề ra biện pháp chấn chỉnh kịp thời.
Theo Dự thảo Quy chế giám sát tài chính đối với DNNN đang được Bộ Tài chính xây dựng thì chủ sở hữu nhà nước (bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, SCIC, hội đồng thành viên/HĐQT tập đoàn, tổng công ty và cơ quan tài chính doanh nghiệp) được giao nhiệm vụ cụ thể trong việc giám sát tình hình quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại DNNN, trong đó tập trung vào danh mục dự án đầu tư và nguồn vốn huy động để đầu tư; tình hình đầu tư vốn ra ngoài, hiệu quả việc đầu tư; tình hình quản lý công nợ và khả năng thanh toán nợ; tình hình bảo toàn và phát triển vốn; kết quả hoạt động kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận/vốn nhà nước...
Định kỳ 6 tháng và hàng năm, DNNN phải lập báo cáo giám sát tài chính (DN có dấu hiệu mất an toàn về tài chính phải thực hiện báo cáo giám sát tài chính 3 tháng/lần) và gửi Bộ Tài chính. Trong đó, 21 tập đoàn, tổng công ty bao gồm EVN, PVN, TKV, VNPT, Vinashin, Dệt - May Việt Nam, Viettel, Vinachem, VNA... ngoài gửi báo cáo cho Bộ Tài chính còn phải gửi báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng Chính phủ.
Theo yêu cầu của Quy chế giám sát, trong quá trình giám sát, chủ sở hữu phải nắm được thực trạng tình hình huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn, khả năng bảo toàn vốn chủ sở hữu, đánh giá các chỉ tiêu giới hạn về an toàn tài chính; đưa ra các biện pháp chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý tài chính tại doanh nghiệp; có giải pháp xử lý trong trường hợp doanh nghiệp mất an toàn về tài chính. Căn cứ vào kết quả giám sát và các chỉ tiêu an toàn tài chính, chủ sở hữu tiến hành xếp loại DN theo mức độ: an toàn hoặc có dấu hiệu mất an toàn.
Đối với DN có dấu hiệu mất an toàn (kinh doanh thua lỗ, hệ số nợ phải trả/vốn điều lệ vượt quá 3 lần; kinh doanh thua lỗ, có số lỗ phát sinh từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên; kinh doanh thua lỗ, có hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn nhỏ hơn 0,5; không trích lập dự phòng hoặc phân bổ sai chi phí làm sai lệch lớn đến kết quả kinh doanh (từ lãi thành lỗ hoặc từ lỗ thành lãi); báo cáo sai sự thật tình hình tài chính) sẽ đươc chủ sở hữu thực hiện chế độ giám sát tài chính đặc biệt.
Trong trường hợp cần thiết, chủ sở hữu có thể tổ chức thanh tra, kiểm tra nhằm xem xét tính trung thực, chính xác về các chỉ tiêu trong các báo cáo quý và năm của doanh nghiệp; công tác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của ban lãnh đạo; công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý tài chính và các nguồn lực khác của doanh nghiệp.
Theo Báo cáo Kết quả giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại 105 tập đoàn, tổng công ty nhà nước do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện thì khối DNNN mà nòng cốt là các tập đoàn, tổng công ty, hịên đóng góp khoảng 40% giá trị GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu), giải quyết việc làm cho 1,8 triệu lao động.
“Nếu đánh giá một cách tổng quát theo các chỉ tiêu cơ bản như bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu, quy mô doanh thu, lợi nhuận, đóng góp ngân sách, tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu, tỷ trọng nợ phải trả/vốn chủ sở hữu... thì đa số DNNN hoạt động có hiệu quả, kinh doanh có lãi nhưng mức độ rất khác nhau, có DN đạt hiệu quả rất cao, có DN lại đạt hiệu quả rất thấp. Nếu phân tích một cách chi tiết và so sánh với DN tư nhân và DN FDI thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DNNN nói chung chưa tương xứng với quy mô, vị trí và vai trò trong nền kinh tế”, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, ông Hà Văn Hiền cho biết.
Vẫn theo ông Hiền, tỉ lệ tổng nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty vẫn nằm trong ngưỡng cho phép (nhỏ hơn 3 lần) nhưng có xu hướng tăng dần từ mức 1,35 lần trong năm 2006 lên 1,4 lần vào cuối năm 2007 và lên 1,47 lần vào đầu năm 2009. Trong đó, 18 tập đoàn, tổng công ty đặc biệt cũng nằm trong tình trạng tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu tăng dần từ mức 1,1 lần năm 2006 lên 1,2 lần năm 2007 và 1,3 lần năm 2008. Nhiều đơn vị có tỷ lệ tổng nợ/vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10 lần), trong đó nhiều tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có số trả nợ phải trả gấp từ 17-21 lần vốn chủ sở hữu.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, vào thời điểm cuối năm 2008, chỉ tính riêng số nợ quá hạn của của 7 tập đoàn đã lên đến 4.168 tỷ đồng, trong đó, Vinashinh có số nợ quá hạn lên đến 3.812 tỷ đồng. Nợ quá hạn của 9 tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng là 1.208 tỷ đồng, chiếm 10,5% tổng số nợ ngân hàng - tỷ nợ lệ quá hạn gấp 2-3 lần so với các lĩnh vực khác. “Đây là một biểu hiện không lành mạnh trong quan hệ tín dụng vì thực chất đó là hiện tượng đảo nợ”, ông Hiền nhận định.
Về hiệu quả hoạt động của DNNN, theo số liệu giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc, tính đến cuối năm 2008 có tới trên 25% số DNNN có mức lợi nhuận âm hoặc dưới 5% và trên 47% số đơn vị có mức lợi nhuận dưới 10%. Số lỗ luỹ kế của 23 tập đoàn, tổng công ty tính đến đầu năm 2009 với số tiền lên đến 2.797 tỷ đồng.
Mạnh Bôn
đầu tư









