Giá tăng nhanh như tên lửa, rơi chậm như lông hồng: Chuyện không riêng của Việt Nam 2026
Hiện tượng giá bán lẻ tăng nhanh khi chi phí đầu vào tăng nhưng giảm chậm khi chi phí đi xuống đang diễn ra tại Việt Nam năm 2026. Cơ chế ẩn phía sau nằm ở sức mạnh định giá của trung gian phân phối, chi phí tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng và quy tắc kế toán hàng tồn kho.
Ảnh minh hoạ bởi AI.
|
Câu chuyện giá tăng nhanh, giảm chậm được các nhà kinh tế học đặt tên là hiện tượng “Tên lửa và Lông hồng”.
Đầu tháng 7/2026, giá dầu thô Brent trên thị trường quốc tế lùi về dưới 72 USD/thùng, kéo theo mức giảm hơn 1,300 đồng/lít của xăng E10 RON95-III trong nước sau kỳ điều hành ngày 4/6/2026. Nghị quyết 34/2026 ngày 30/06/2026 gia hạn giảm hàng loạt thuế đối với xăng dầu đến hết 30/09/2026 tiếp tục ép chi phí đầu vào của thị trường bán lẻ đi xuống.
Trái ngược với đà giảm này, mặt bằng giá thực phẩm và hàng thiết yếu tại chợ dân sinh cùng hệ thống siêu thị vẫn nằm nguyên ở mức được thiết lập trong đợt sốt giá năng lượng tháng 3-4 khi chiến tranh Iran mới bùng phát.
Tại họp báo Chính phủ ngày 04/07/2026, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân yêu cầu các địa phương rà soát, điều chỉnh giá hàng hóa theo diễn biến giảm của xăng dầu và chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường xử lý các dấu hiệu găm hàng, đầu cơ, bán cao hơn giá niêm yết.
Hiện tượng giá bán lẻ dính chặt ở đỉnh sau các cú sốc chi phí giảm đã được kinh tế học định danh thành một quy luật vận hành hệ thống ở nhiều quốc gia trong hơn ba thập kỷ.

Bay lên như tên lửa, rơi xuống như lông vũ
Nhà kinh tế học Robert Bacon đặt tên “Tên lửa và Lông hồng” (Rockets and Feathers) cho hiện tượng giá biến động bất đối xứng vào năm 1991 khi phân tích thị trường xăng dầu bán lẻ tại Anh. Hình ảnh trực quan này nắm bắt đúng bản chất mà hầu hết ngành hàng tiêu dùng và năng lượng đều mắc phải. Giá bán lẻ bốc lên tức thì khi chi phí đầu vào tăng, nhưng rơi xuống chậm chạp khi chi phí đầu vào đi xuống với cùng biên độ.
Ba nhà nghiên cứu Borenstein, Cameron và Gilbert đo lường mức thiệt hại này trên thị trường xăng dầu Mỹ vào năm 1997. Mỗi thay đổi chi phí tương đương 1 cent khiến người tiêu dùng phải chi trả thêm trung bình 2.6 cent (0.026 USD) trong suốt thời kỳ giá điều chỉnh. Khoản chi phí thặng dư đó chuyển thẳng sang bảng kết quả kinh doanh của các trạm bán lẻ xăng dầu dưới dạng biên lợi nhuận tăng thêm trong ngắn hạn.
Tính phổ quát của quy luật này được nhà kinh tế học Sam Peltzman kiểm chứng ba năm sau với một bộ dữ liệu rộng hơn nhiều. Kho khảo sát của Peltzman năm 2000 bao gồm 282 chỉ số sản phẩm tại Mỹ, chia thành 120 mặt hàng nông sản thực phẩm và 162 sản phẩm công nghiệp tiêu dùng.
Giả thuyết giá truyền dẫn đối xứng bị bác bỏ ở hơn 70% số thị trường được kiểm định, đưa “Tên lửa và Lông vũ” từ một quan sát về ngành xăng dầu lên vị thế của một quy luật kinh tế vi mô. Câu hỏi tiếp theo là các cơ chế phía sau trông ra sao khi mổ xẻ vào từng khâu trong chuỗi phân phối.
Người bán giữ giá cao, người mua bỏ so sánh
Bên trong một thị trường độc quyền nhóm hoặc cạnh tranh độc quyền, mức giá bán lẻ hiện hành hoạt động như điểm hội tụ tự nhiên cho toàn ngành. Khi chi phí đầu vào giảm, không doanh nghiệp nào chủ động hạ giá trước vì hành động đó có thể kích hoạt một chu kỳ cắt giảm giá đồng loạt từ các đối thủ, làm co biên lợi nhuận của cả ngành. Trì hoãn giảm giá vì vậy trở thành lựa chọn hợp lý ở cấp độ doanh nghiệp, ngay cả khi tổng hòa của nó gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Nhu cầu duy trì điểm hội tụ càng dễ thành công nhờ mảnh ghép thứ hai đến từ phía cầu. Các nhà kinh tế đã mô hình hóa hành vi tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng và chỉ ra sự bất đối xứng có tính cấu trúc.
Khi giá bán lẻ tăng, người tiêu dùng biết chi phí đầu vào cũng tăng (qua tin tức giá xăng dầu, lạm phát) nên chủ động tìm kiếm cửa hàng giá rẻ hơn. Sức ép cạnh tranh này không chặn được xu hướng tăng giá chung vì mọi cửa hàng cùng chịu chi phí cao, nhưng buộc từng cửa hàng chỉ được tăng giá bám sát chi phí thực, tạo ra tốc độ truyền dẫn gần như tức thì.
Cơ chế này đảo chiều khi giá bán giữ nguyên còn chi phí đi xuống. Người tiêu dùng thấy mức giá không đổi so với kỳ trước nên bỏ ý định so sánh, cấp cho nhà bán lẻ một khoảng sức mạnh độc quyền cục bộ đủ để tiếp tục hưởng chênh lệch giữa giá bán và chi phí đã giảm.
Dữ liệu thực nghiệm của nhà kinh tế Matt Lewis năm 2011 tại thị trường xăng dầu Mỹ minh họa rất rõ. Trong 5 ngày đầu sau một cú sốc giá dầu giao ngay, các trạm xăng chuyển 46% mức tăng chi phí vào giá bán lẻ, còn khi chi phí đầu vào giảm thì giá bán đi xuống gần như không đáng kể.

Sức mạnh định giá và chi phí tìm kiếm thông tin mới giải thích được lớp hành vi của người bán và người mua. Vì sao ngay cả khi doanh nghiệp muốn giảm giá cũng gặp trở ngại, câu trả lời nằm ở hai khâu là tài chính và tồn kho.
Hai chính sách định giá đối lập
Hai nhà kinh tế Ball và Mankiw phát triển khung phân tích chi phí thực đơn (menu costs) vào năm 1994 để mô tả toàn bộ khoản chi phí vật lý và vô hình mà doanh nghiệp phải trả cho một lần đổi giá bán lẻ, gồm in lại tờ rơi, sửa hệ thống điểm bán, đào tạo nhân viên và giải thích với khách hàng.
Trong môi trường lạm phát có tính xu hướng, doanh nghiệp sẵn sàng trả khoản chi phí thực đơn này để tăng giá danh nghĩa lên tương ứng với chi phí đầu vào, vừa bù chi phí thực tế vừa neo giá theo lạm phát kỳ vọng.
Hành vi doanh nghiệp thay đổi khi chi phí đầu vào đi xuống. Lạm phát xu hướng vẫn tự động làm giảm giá trị thực của sản phẩm theo thời gian ngay cả khi giá danh nghĩa đứng yên, nên giữ nguyên giá danh nghĩa vừa tiết kiệm chi phí thực đơn vừa tạo lớp đệm phòng thủ trước rủi ro chi phí biến động lần sau.
Chẳng hạn, Nghị quyết 34/2026 chỉ gia hạn giảm thuế đến hết 30/09/2026, các trung gian phân phối càng ưu tiên neo giá cao để không phải hai lần đổi bảng giá trong ba tháng.
Bên cạnh chi phí thực đơn, khâu vận hành tồn kho vật lý tạo ra một độ trễ cơ học không cách nào loại bỏ. Khi chi phí đầu vào giảm, kho vẫn còn nguyên lô hàng nhập ở mức giá cao trong đợt trước. Nhà bán lẻ hạ giá ngay theo mức chi phí mới sẽ phải bán lô cũ dưới giá vốn và ghi nhận lỗ trên báo cáo tài chính hạch toán theo phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO), nên lựa chọn hợp lý là trì hoãn giảm giá cho đến khi tiêu thụ hết lô cũ, tạo độ trễ điển hình từ một đến hai tháng.
Ở chiều tăng giá, hành vi định giá đảo chiều hoàn toàn theo triết lý chi phí thay thế. Doanh nghiệp tăng giá bán lẻ ngay cho cả lượng hàng tồn giá thấp còn lại, vì mức giá bán phải đảm bảo dòng tiền đủ để nhập lô kế tiếp với chi phí đầu vào cao hơn. Sự bất đối xứng nằm ở việc doanh nghiệp bám vào giá vốn cũ khi chi phí đi xuống nhưng lại nhảy sang chi phí thay thế khi chi phí đi lên, biến việc chọn neo định giá thành công cụ khai thác biên lợi nhuận ở cả hai chiều.
Xóa chi phí tìm kiếm bằng một cổng dữ liệu
Tác động của các cơ chế vi mô này biểu hiện khác nhau khi đối chiếu giữa các khu vực có hạ tầng thông tin và pháp lý khác nhau. Chính phủ Đức đưa Cổng minh bạch thị trường xăng dầu (MTU) vào vận hành từ tháng 12/2013, buộc mọi trạm xăng công bố giá theo thời gian thực về một cơ sở dữ liệu trung tâm mở cho các ứng dụng so sánh giá.
Chi phí tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng vì vậy tiệm cận không, và các trạm xăng mất luôn khoản độc quyền cục bộ vốn nuôi hành vi trì hoãn giảm giá. Thị trường bán lẻ xăng dầu Đức dịch chuyển từ bất đối xứng dương sang bất đối xứng âm, tức tốc độ giảm giá nhanh hơn chiều tăng.
Câu chuyện đảo ngược ở khu vực thị trường mới nổi và đang phát triển. Rào cản thể chế cùng hạ tầng logistics yếu làm hiện tượng giá neo ở đỉnh trở nên trầm trọng hơn.
Các nghiên cứu thực nghiệm tại Indonesia và một số quốc gia khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) cho thấy khi chính phủ đặt giá trần hoặc tăng cường trợ cấp, thương nhân trung gian coi mọi đợt giảm chi phí thế giới là biến động tạm thời trước một đợt siết hành chính mới, nên chọn duy trì giá bán lẻ cao thay vì phản ánh mức giảm vào giá bán. Bên cạnh đó, hạ tầng logistics thiếu hụt và chi phí giao dịch cao khiến hàng hóa giá rẻ khó lưu thông giữa các vùng, thu hẹp khả năng kinh doanh chênh lệch giá của các đối thủ mới.
Đặc tính vật lý của hàng hóa đôi khi thay đổi cả quy luật. Nông sản dễ hỏng như cà chua, rau xanh hay hải sản tươi luôn cho thấy xu hướng bất đối xứng âm, do các tiểu thương và nhà bán lẻ đối mặt với rủi ro mất trắng vốn nếu để tồn kho thối hỏng. Khi chi phí bán buôn giảm, họ hạ giá bán lẻ tức thì để giải phóng lượng hàng dễ hỏng; khi chi phí bán buôn tăng, họ trì hoãn tăng giá để không mất sức mua ngay lập tức.
Ở Việt Nam, giảm thuế và chỉ đạo hành chính ngắn hạn chỉ chạm được lớp vỏ ngoài khi nào cấu trúc phân phối và cơ sở dữ liệu giá còn giữ nguyên. Một cổng dữ liệu giá theo thời gian thực cho các nhóm hàng thiết yếu, tương tự mô hình MTU của Đức, sẽ xóa dần chi phí tìm kiếm thông tin đang nuôi sức mạnh độc quyền cục bộ. Tinh giản trung gian trong chuỗi phân phối và đầu tư hạ tầng kho lạnh cho nhóm hàng dễ hỏng sẽ rút ngắn độ trễ truyền dẫn.
Đức Quyền









