Giảm lãi suất cho vay 1% đối với DNNVV: Không chỉ giảm chi phí, mà là tối ưu dòng tiền
Động thái yêu cầu giảm tối thiểu 1% lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang mở ra nhiều kỳ vọng mới. Theo góc nhìn chuyên gia, giá trị cốt lõi của chính sách này không dừng lại ở bài toán cắt giảm trực tiếp gánh nặng tài chính, mà là đòn bẩy khơi thông dòng tiền, giúp doanh nghiệp linh hoạt tái đầu tư, mở rộng sản xuất và kích hoạt một vòng lặp tăng trưởng bền vững cho cả nền kinh tế.
Chiều 11/08/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành văn bản số 7125/NHNN-TD ngày 07/8/2026 gửi các ngân hàng thương mại và NHNN chi nhánh tại các khu vực về việc triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
NHNN đề nghị các ngân hàng thương mại chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực của mình để xây dựng và triển khai các chương trình, sản phẩm, gói tín dụng phù hợp trên tinh thần đồng hành, chia sẻ với người dân, doanh nghiệp. Trong đó, ưu tiên xây dựng và triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV.
Khách hàng vay vốn gồm: DNNVV, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế như: nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo, các dự án thuộc danh mục phân loại xanh theo quy định của pháp luật,…
Lãi suất cho vay ưu đãi bằng đồng Việt Nam: Thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) của chính ngân hàng cho vay áp dụng trong từng thời kỳ; thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ (nếu có) đối với khách hàng, phù hợp với quy định pháp luật và quy mô hoạt động, năng lực của ngân hàng.
Trường hợp khách hàng đủ điều kiện để hưởng ưu đãi của nhiều chương trình, gói tín dụng mà ngân hàng đang triển khai, các ngân hàng cân đối nguồn lực để thực hiện hỗ trợ một hoặc nhiều chính sách phù hợp với nhu cầu của khách hàng và điều kiện, năng lực của ngân hàng.
Từ tăng trưởng tín dụng thuần túy sang nâng cao năng lực hấp thụ vốn
Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi
|
Đánh giá về yêu cầu của NHNN áp dụng từ tháng 8/2026 đối với việc giảm tối thiểu 1% lãi suất cho vay, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi nhận định, đây là quyết sách mang ý nghĩa đặc biệt tích cực. Trọng tâm của chương trình không chỉ nhằm hỗ trợ trực tiếp DNNVV - lực lượng nòng cốt tạo ra việc làm và cung ứng dịch vụ - mà còn tạo cơ sở cho các lĩnh vực động lực tăng trưởng mới như xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghiệp hỗ trợ và các dự án xanh.
Ở góc độ vi mô, tác động đầu tiên và trực tiếp nhất của chính sách là giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vốn và cải thiện dòng tiền. Nếu một doanh nghiệp đang có khoản vay 10 tỷ đồng, mức giảm 1 điểm phần trăm sẽ giúp họ tiết kiệm khoảng 100 triệu đồng chi phí lãi vay mỗi năm. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi không chỉ nằm ở con số tiết kiệm tuyệt đối. Với nhóm DNNVV vốn luôn chịu nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vốn, phần dôi dư này sẽ trở thành nguồn lực thiết thực để họ nhập thêm nguyên vật liệu, đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, tuyển dụng lao động và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong khi doanh nghiệp được hưởng lợi rõ nét, thì ở góc nhìn của các tổ chức tín dụng, việc giảm lãi suất chắc chắn sẽ tạo ra áp lực nhất định lên biên lợi nhuận trên từng khoản vay. Mặc dù vậy, ông Huy nhấn mạnh không nên tư duy máy móc theo công thức "giảm lãi suất đồng nghĩa với mất lợi nhuận". Thay vào đó, các ngân hàng hoàn toàn có thể bù đắp phần hụt thu này thông qua việc mở rộng quy mô tín dụng, gia tăng tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA), phát triển dịch vụ phụ trợ và tiết giảm chi phí vận hành nhờ số hóa. Nói cách khác, đây là chiến lược chấp nhận hy sinh một phần biên lợi nhuận ngắn hạn để nuôi dưỡng tệp khách hàng, từ đó đảm bảo chất lượng tài sản và tạo ra nguồn thu bền vững trong dài hạn khi sức khỏe tài chính của doanh nghiệp phục hồi.
Từ sự tương tác giữa doanh nghiệp và ngân hàng, chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với toàn bộ nền kinh tế. "Thành công của một chính sách tiền tệ không nằm ở việc doanh nghiệp bớt được bao nhiêu tiền lãi, mà ở cách dòng tiền tiết kiệm đó được luân chuyển. Khi chi phí vốn rẻ được bơm trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, nó sẽ khởi động một vòng lặp tích cực: Mở rộng sản xuất dẫn đến tăng đơn hàng, tạo thêm việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động, từ đó kích cầu tiêu dùng và cuối cùng là quay trở lại làm tăng doanh thu cũng như khả năng trả nợ của chính doanh nghiệp", ông Huy nhận định.
Tuy nhiên, để vòng lặp tích cực trên thực sự diễn ra, chuyên gia Nguyễn Quang Huy lưu ý 2 điều kiện tiên quyết trong khâu thực thi. Thứ nhất, giảm lãi suất phải đi đôi với khả năng tiếp cận vốn. Một mức lãi suất rẻ sẽ trở nên vô nghĩa nếu rào cản thủ tục quá lớn khiến doanh nghiệp không thể vay. Để tháo gỡ nút thắt này, hệ thống ngân hàng cần chủ động đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xét duyệt và tăng cường sử dụng dữ liệu trong chấm điểm tín dụng. Đặc biệt với DNNVV - nhóm thường yếu thế về chuẩn mực kế toán và tài sản đảm bảo - các tổ chức tín dụng cần linh hoạt thiết kế sản phẩm bám sát vào dòng tiền và tính khả thi của phương án kinh doanh thực tế.
Bên cạnh việc khơi thông dòng vốn, điều kiện thứ hai là tuyệt đối không được hạ chuẩn tín dụng. Trong bối cảnh nợ xấu đang có xu hướng tăng nhanh hơn dư nợ, nới lỏng chi phí vốn không bao giờ được phép đồng nhất với việc nới lỏng tiêu chuẩn cho vay. Các ngân hàng vẫn buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thẩm định năng lực trả nợ. Điểm cân bằng lý tưởng mà chính sách hướng tới chính là việc doanh nghiệp tiếp cận được vốn rẻ, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn bảo vệ được chất lượng tín dụng và quản trị tốt rủi ro.
Nhìn nhận một cách tổng thể, chuyên gia Nguyễn Quang Huy kết luận rằng định hướng giảm tối thiểu 1% lãi suất đã cho thấy bước chuyển mình quan trọng của ngành ngân hàng: Từ mục tiêu "tăng trưởng tín dụng thuần túy" sang "nâng cao hiệu quả hấp thụ vốn". Bước vào chu kỳ cạnh tranh mới, quy mô tài sản sẽ không còn là vũ khí duy nhất. Ngân hàng nào có khả năng huy động vốn rẻ, phân bổ tín dụng hiệu quả, kiểm soát chặt nợ xấu và số hóa toàn diện sẽ nắm giữ lợi thế bền vững. Về phía nền kinh tế, chính sách này là bệ đỡ kịp thời, đòi hỏi cộng đồng doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt và biến các ưu đãi tài chính thành những dòng tiền thực chất, đóng góp trực tiếp vào bức tranh tăng trưởng chung.
Tạo dư địa để tăng trưởng GDP hai chữ số
Cùng quan điểm, NCS.Ths. Nguyễn Thái Bình - Giảng viên, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) nhận định, đây là một tín hiệu tích cực và mang tính định hướng cao, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số. Theo ông, bước đi này không chỉ là giải pháp hỗ trợ giảm chi phí vốn, mà còn là công cụ chiến lược nhằm nắn dòng tín dụng vào các khu vực động lực của nền kinh tế.
NCS.Ths. Nguyễn Thái Bình - Giảng viên, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT)
|
Chuyên gia chỉ ra rằng tác động trực tiếp nhất của chính sách là giúp các DNNVV tiết giảm chi phí tài chính và cải thiện đáng kể dòng tiền. Dư địa từ phần lãi suất được cắt giảm sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp từ bỏ trạng thái phòng thủ, chuyển sang chủ động đầu tư vào máy móc, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Quá trình sử dụng vốn hiệu quả này sẽ trực tiếp tạo ra thêm sản lượng, việc làm và giá trị gia tăng.
Ông Nguyễn Thái Bình nhấn mạnh ý nghĩa của việc điều hướng dòng vốn. Nếu nguồn vốn ưu đãi được đưa vào đúng các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao như sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu hay kinh tế số, tín dụng sẽ thực sự trở thành đòn bẩy chiến lược cho tăng trưởng.
Dù vậy, ông Bình cũng lưu ý rằng mức độ thành công của chính sách trên thực tế vẫn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc chủ động hạ nhiệt chi phí vay chắc chắn sẽ đóng vai trò chất xúc tác, giúp củng cố niềm tin kinh doanh và kích thích nhu cầu đầu tư phục hồi.
Nhìn về dài hạn, chuyên gia Nguyễn Thái Bình kỳ vọng động thái giảm lãi suất sẽ khởi tạo chu kỳ kinh tế khép kín và tích cực: Chi phí vốn rẻ kích thích doanh nghiệp mở rộng đầu tư; đầu tư thúc đẩy sản xuất và việc làm; dòng tiền của doanh nghiệp dồi dào giúp khả năng trả nợ tốt hơn; từ đó tạo cơ sở an toàn để hệ thống ngân hàng tiếp tục mở rộng tín dụng. Tựu trung lại, việc giảm ít nhất 1% lãi suất chính là bước khơi thông mạch máu tài chính đồng bộ cho cả doanh nghiệp, ngân hàng và toàn nền kinh tế, đồng thời tạo ra "dư địa" vững chắc để hỗ trợ Việt Nam hướng tới khát vọng tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn tới.
Ngay sau thông báo của NHNN, NCB là ngân hàng đầu tiên triển khai chính sách giảm lãi suất vay cho DNNVV, đối với khách hàng cá nhân, lãi suất ưu đãi mới được áp dụng cho nhiều nhu cầu vay như cầm cố, sản xuất – kinh doanh, mua nhà riêng lẻ và tiêu dùng có tài sản bảo đảm. Lãi suất sau điều chỉnh chỉ từ 8.49%/năm, góp phần giảm áp lực chi phí tài chính và tạo thêm dư địa để khách hàng thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.
Cát Lam










