Tin tức
Liệu Mỹ có cần "thắt lưng buộc bụng"?

Liệu Mỹ có cần "thắt lưng buộc bụng"?

24/07/2011

Banner PHS

Liệu Mỹ có cần "thắt lưng buộc bụng"?

Liên minh và Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) cũng dùng biện pháp "thắt lưng buộc bụng" đối với trường hợp thâm hụt ngân sách của Anh. Chiến lược này liệu có hiệu quả với người khổng lồ Hoa Kỳ?

Thắt lưng buộc bụng

Theo lời Barack Obama thì không có thỏa hiệp nào giữa việc cải thiện một nền kinh tế yếu kém và giải quyết vấn đề tài chính công vẫn còn đang căng thẳng ở Mỹ.

Vị tổng thống đã nói vào ngày 2 tháng 7 rằng: "Chúng ta phải cắt giảm chi tiêu, chúng ta không đủ khả năng vì vậy chúng ta cần phải đưa nền kinh tế trạng thái thăng bằng". Ông nói thêm, cắt giảm chi tiêu công là cần thiết nhằm "mang lại cho các doanh nghiệp sự tự tin cần thiết để tiếp tục phát triển và tạo thêm công ăn việc làm".

Cuộc đàm phán giữa Quốc hội và Nhà Trắng trong việc cắt giảm hàng ngàn tỉ đôla ngân sách thành công rõ ràng tốt hơn là để mặc tình trạng khủng hoảng nợ. Thêm vào đó, tình trạng mất việc làm của khu vực công đã khiến tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ lên đến 9,2% trong tháng 6.

Ông Obama không đơn độc trong lập luận rằng chính sách "thắt lưng buộc bụng" có thể thúc đẩy tăng trưởng: Liên minh và Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) cũng cách làm tương tự đối với trường hợp thâm hụt ngân sách của Anh.

Lãi suất giảm dưới mức quy định sẽ làm tăng khối lượng đầu tư và giá trị tài sản. Kỳ vọng rằng các mức thuế giảm và thu nhập bình quân tăng sẽ khuyến khích đầu tư và chi tiêu thay vì gửi tiền vào ngân hàng và nhận lãi.

Một văn kiên mới của ECB lập luận rằng "chính sách tài khóa thắt chặt có thể áp dụng rộng rãi nếu môi trường tiếp nhận đủ mạnh." Tuy nhiên trên thực tế rất hiếm khi người ta làm theo cách đó.

Trong một nghiên cứu gần đây về sự thay đổi của 173 chính sách tài khóa của những nước giàu trong khoảng thời gian 1978-2009, các chuyên gia kinh tế của IMF nhận thấy rằng thâm hụt ngân sách của một quốc gia thường làm giảm 1% GDP của nước đó nhưng trên thực tế thực tế là chỉ làm giảm khoảng 2/3 của 1 % GDP và tăng 1/3 của 1% tỷ lệ thất nghiệp.

Phá vỡ quy luật

Tuy nhiên, trong một bài báo mới đây, Roberto Perotti đến từ Đại học Bocconi trình bày một loạt các nghiên cứu về trường hợp "thắt lưng buộc bụng" mà cắt giảm chi tiêu đồng nghĩa với tăng trưởng GDP.

Trường hợp hy hữu này chính là Đan Mạch, nước này đã điều chỉnh chính sách tài khóa trong giai đoạn 1983-1986 và kết quả là nhu cầu nội địa của nó tăng lên.

Tình hình Đan Mạch vào năm 1983 không khác gì nhiều so với Mỹ ngày nay. Thậm chí tại thời điểm đó nền kinh tế Đan Mạch còn tăng trưởng mạnh mẽ hơn với tốc độ 4% mỗi năm trước khi nó phải bắt đầu áp dụng chính sách thắt chặt chi tiêu (tốc độ tăng trưởng quý đầu năm nay của Mỹ là 1,9%).

Quan trọng hơn, Đan Mạch có tỷ lệ lãi suất cực cao. Chính sách của Đan Mạch đã thành công khi hạ lãi suất dài hạn đỉnh cao 23% xuống mức bình thường. Giai đoạn này, Đan Mạch cũng trong tình trạng khủng hoảng hàng tiêu dùng lâu bền và đầu tư, giá nhà cũng tăng 60% từ 1982 đến 1986.

Hiện tại, ở Mỹ, lãi suất dài hạn đã chạm đáy, dưới 4%, nhưng mức tiêu thụ hàng hóa vẫn còn yếu ớt. Thị trường nhà ở đang mắc kẹt trong vũng lầy lớn. Với mức lãi suất thấp như hiện nay, chính sách "thắt lưng buộc bụng" sẽ khiến lạm phát tăng đồng thời sẽ tăng tỉ lệ lãi suất thực tế, và làm suy yếu thêm nền kinh tế vẫn còn đang bơ phờ.

Niềm tin và tỷ giá

Tăng chỉ số niềm tin trong nước không phải là con đường duy nhất để tăng trưởng trong bối cảnh phải "thắt lưng buộc bụng". Nhu cầu nước ngoài thường có vai trò quan trọng hơn. Từ 1987 đến 1989 cán cân thương mại của Ireland được cải thiện nhiều nhưng các khoản nợ nước ngoài đều bị từ chối ngay cả khi có những tăng trưởng tài chính khả quan.

Một lần nữa, giảm tỷ lệ lãi suất điều quan trọng: lãi suất dài hạn tốt nhất nên ở mức khoảng 13% khi áp dụng chính sách kích cầu.

Tuy nhiên, vai trò của tỷ giá hối đoái còn quan trọng hơn. Ngay khi Ireland tiến hành chính sách tiền tệ, đồng tiền nước này được định giá cao hơn 20% so với Anh, đối tác thương mại lớn nhất của Ireland. Tình thế đảo ngược vào đầu năm 1987 và khi đồng bảng tăng 17% so với đồng punt. Xuất khẩu của Ailen đã tăng 10% một năm từ 1987 đến 1990, hầu hết các chỉ số đều cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng.

Năm 1990, Ý cũng đã thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" và nước này thường được các nhà hoạch định chính sách châu Âu lấy làm dẫn chứng về một quốc gia phải vật lộn với gánh nặng nợ nần khổng lồ của mình. Từ năm 1991 đến 1998, Ý điều chỉnh các khoản thặng dư ngân sách để bù vào các khoản nợ. Đồng tiền của Ý đã giảm mạnh. Trong tháng 9 năm 1992, Ý buộc phải rút khỏi cơ chế tỉ giá hối đoái của châu Âu. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, đồng lia của Ý đã giảm tới 40% giá trị so với đồng mark của Đức.

Cân đối lại ngân sách đã đem lại khoản thặng dư lớn cho Ý và tạo ra những tăng trưởng nhảy vọt. Đây cũng là một bài học cho Hy Lạp, một nước cũng trong tình cảnh nợ nần, tuy nhiên đây không phải là điều mà nhà lãnh đạo khu vực đồng tiền chung Châu Âu muốn truyền đạt.

Nỗ lực tranh đấu

Mỹ sẽ cố gắng đấu tranh để có lại những thành công trước đây. Phạm vi mở rộng xuất khẩu hàng hóa ngày càng bị hạn chế bởi quá trình thu hồi nợ của các nước giàu khác. Xuất khẩu chiếm một phần tương đối nhỏ trong các hoạt động kinh tế của Mỹ nhưng lại dẫn đầu trong bất kỳ một sự khủng hoảng thương mại nào.

Đối tác kinh doanh lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá hối đoái của nhân dân tệ so với đôla nhằm kháng cự lại sự mất giá của đồng đôla. Bất kỳ lúc nào các nhà đầu tư cũng phải tìm nơi và đồng tiền để đầu tư và họ sẽ chọn nước Mỹ với đồng tiền dự trừ thế giới, đôla.

Trong một nền kinh tế bị hạn chế bởi mức lãi suất thấp, thâm hụt thương mại nặng nề và cầu tự nhiên đối với đồng tiền dự trữ của thế giới tăng, thắt lưng buộc bụng sẽ có rất ít tác dụng.

FED lộ diện

Quân bài cuối cùng của Tổng thống là hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ Cục Dự trữ Liên bang (FED). FED chỉ có thể điều chỉnh đươc phần tác động tiêu cực của việc cắt giảm ngân sách nhờ vào các chính sách nởi lỏng tiền tệ. Các chuyên gia kinh tế của IMF cho rằng cắt giảm chi tiêu là khả quan hơn so với tăng thuế bởi vì FED sẵn sàng bồi thường cho các vấn đề phát sinh.

Có vẻ như FED ít quan tâm đến số tiền nợ công có thể huy động. Tuy nhiên, với mức lãi suất gần bằng không, lựa chọn của FED dường như bị giới hạn bởi những chính sách trái với thông lệ.

Thêm vào đó, yếu tố bên ngoài như giá cả hàng hóa tăng cao, cũng có thể gây khó khăn cho FED. Trước đây, ECB cũng đã buộc phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ do ảnh hưởng của việc giá cả hàng hóa cao và hậu quả của lạm phát trong khu vực đồng euro.

Nước Mỹ không thể chờ đợi thêm nữa trong việc kiểm soát nợ. Để làm được điều này cần phải có một kế hoạch khả thi nhằm giảm thâm hụt ngân sách trong giai đoạn trung hạn. Nhưng việc cắt giảm chi tiêu công sẽ mất nhiều thời gian trì hoãn hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Một năm để phục hồi sẽ giúp Mỹ tự tin hơn trước những biến động kinh tế.

 Bích Ngọc (Theo Economist)

diễn đàn kinh tế việt nam

Banner PHS
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng