Lý do Trung Quốc chưa tăng lãi suất chống lạm phát
Hiện nay, Trung Quốc là nước có mức lạm phát cao, theo số liệu của Cục Thống kê Trung Quốc, CPI tháng 10/2010 tới 4,4%, tháng 11/2010 con số này đã lên tới 5,1%, cao hơn mức dự kiến lạm phát của cả năm (3%).
Để đối phó với tình hình tăng giá, ngày 20/11/2010 chính phủ Trung Quốc ban hành chỉ thị ổn định giá cả tiêu dùng, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện 16 biện pháp cấp bách tăng cường quản lý giá cả, bảo đảm đời sống của nhân dân. Đây là những biện pháp can thiệp mang tính chất hành chính song được đánh giá là cần thiết để kiềm chế lạm phát.
Ngày 3/12/2010, Trung Quốc đưa ra quyết định thay đổi chính sách nới lỏng tiền tệ, chuyển sang chính sách tiền tệ thận trọng. Việc chuyển hướng chính sách tiền tệ cho thấy Trung Quốc đã đặt vấn đề kiềm chế lạm phát lên vị trí hàng đầu, sắp tới Trung Quốc có thể sẽ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát. Trong tình hình lãi suất âm ( - ), lãi suất huy động nhân dân tệ các loại không kỳ hạn, 6 tháng, 1 năm lần lượt là 0,36%, 1,98% và 2,25%, lãi suất cho vay nhân dân tệ 6 tháng là 4,68%, lạm phát trên 5%, nhiều người kỳ vọng Trung Quốc sẽ tăng lãi suất. Tuy nhiên cho đến nay Trung Quốc vẫn rất thận trọng trong việc điều chỉnh lãi suất.
Theo các chuyên gia kinh tế: Hiện nay Trung Quốc chưa có nền kinh tế thị trường thực sự, do đó việc tăng lãi suất ít có tác dụng, mặt khác nó có thể hạn chế sự phát triển kinh tế. Song điều Trung Quốc lo lắng nhất khi thực hiện tăng lãi suất đó là: các dòng vốn nóng từ nước ngoài sẽ đổ vào, làm cho thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản nóng lên, hình thành bong bóng tài sản, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế, cho nên Trung Quốc rất coi trọng việc lựa chọn chính sách tiền tệ đối phó với lạm phát.
Từ ngày 10/12/2010 đến ngày 12/12/2010, Trung Quốc tổ chức hội nghị kinh tế trung ương để đánh giá tình hình kinh tế năm 2010 và xây dựng kế hoạch kinh tế trong năm 2011. Liên quan vấn đề lựa chọn chính sách tiền tệ để đối phó lạm phát, các chuyên gia kinh tế cho biết theo nhận định của hội nghị kinh tế trung ương, tuy lạm phát năm 2010 (5% ) cao hơn mức lạm phát dự kiến (3%), song trong điều kiện GDP tăng trưởng trên 9%, mức lạm phát như vậy vẫn có thể chấp nhận được, Trung Quốc cần đối phó với lạm phát để đảm bảo đời sống nhân dân, song cũng cần cảnh giác với nguồn vốn nóng đổ vào trong nước.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc trong năm 2011 rất nặng nề, vừa phải kiềm chế lạm phát, vừa phải giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định. Trước mắt cần thực hiện nhiệm vụ kiềm chế lạm phát bằng chính sách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chưa sử dụng biện pháp tăng lãi suất. Viêc Trung Quốc thực hiện chính sách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để chống lạm phát là dựa trên thực tế các ngân hàng không gặp khó khăn về thanh khoản. Tháng 10/2010 dư nợ tín dụng của các ngân hàng tăng 564 tỷ NDT. Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2010 tín dụng tăng ở mức cao, tổng số tiền cho vay mới lên tới 7.440 tỷ NDT. Với con số này, mục tiêu hạn chế mức cho vay mới năm 2010: 7.500 tỷ NDT có thể bị phá vỡ.
Theo số liệu của Cục Thống kê Trung Quốc, năm 2010 Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã 6 lần điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc( TLDTBB ) đối với các ngân hàng lớn, cụ thể là:
Ngày 18/1/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 15,5% lên 16%.
Ngày 25/2/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 16% lên 16,5%.
Ngày 10/5/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 16,5% lên 17%.
Ngày 16/11/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 17% len 17,5%.
Ngày 29/11/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 17,5% lên 18%.
Ngày 20/12/2010: Điều chỉnh TLDTBB từ 18% lên 18,5%.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng vừa và nhỏ cũng được điều chỉnh song ở mức độ thấp hơn, cụ thể là:
Ngày 16/11/2010: Điều chỉnh từ 13,5% lên 14%.
Ngày 29/11/2010: Điều chỉnh từ 14% lên 14,5%.
Ngày 20/12/2010: Điều chỉnh từ 14,5% lên 15%.
Chuyên gia kinh tế Liw Wei ( Phó Hiệu trưởng trường đại học Bắc Kinh) cho rằng Chính phủ cần kiên trì viêc chống lạm phát, việc chống lạm phát không thể nóng vội, cũng như việc chữa bệnh cúm, uống thuốc xong cần có thời gian nhất định theo phác đồ điều trị mới có thể khỏi bệnh.
Theo Liw Wei, có nhiều nguyên nhân gây nên lạm phát ở Trung Quốc, trong đó nguyên nhân chính là do thừa thanh khoản. Để đối phó cuộc khủng hoảng tiền tệ thế giới, Trung Quốc đã buộc phải thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ và tài chính, một khối lượng tiền tệ lớn đã được ngân hàng tung ra. Nếu số tiền đó đưa vào sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất hàng hóa thì không có tác dụng xấu đến lạm phát, song nếu đưa vào vào lĩnh vực phi sản xuất như chứng khoán, bất động sản, các tài sản phái sinh của ngân hàng thì sẽ làm cho giá thành của cả nền kinh tế tăng lên, giá nhà ở tăng lên, giá nông sản tăng lên, giá thực phẩm tăng lên, người lao động cũng sẽ đòi tăng lương, tiền lương không phải một yếu tố đơn lẻ, một khi đã tăng lương thì giá thành sức lao động của toàn xã hội sẽ tăng lên và gây nên lạm phát. Lạm phát do giá thành sức lao động xã hội tăng đáng lo ngại hơn lạm phát do nhu cầu hàng hóa tăng. Lạm phát do nhu cầu về hàng hóa tăng sẽ kích thích thị trường hoạt động sôi động hơn, các công xưởng làm việc nhiều hơn, nhu cầu lao động lớn hơn.
Ngược lại lạm phát do giá thành sức lao động xã hội tăng sẽ làm cho nhu cầu về hàng hóa giảm sút, giá cả leo thang, dẫn đến lạm phát trì trệ ( thất nghiệp cao kèm theo lạm phát cao). Hiện nay ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ thế giới chưa chấm dứt, mâu thuẫn về nhu cầu bất hợp lý trong nước chưa được giải quyết cơ bản, chưa có đủ điều kiện để kinh tế tăng trưởng bền vững, do đó trong vòng 1,2 năm tới, Trung Quốc vẫn chịu sức ép tương đối lớn về lạm phát. Để đối phó lạm phát, Trung Quốc cần phải siết chặt thanh khoản, kiên trì thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn tình trạng lạm phát trì trệ. Tuy nhiên việc điều chỉnh các biện pháp chống lạm phát không nên làm giật cục, tránh những thay đổi lớn về chính sách trong thời gian ngắn.
Phí Đăng Minh
SBV









