Lý do Trung Quốc tăng lãi suất cơ bản
Ngày 19/10/2010, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc( PBC) lần đầu tiên trong gần 3 năm trở lại đây đã bất ngờ tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25%, đưa lãi suất tiền gửi 1 năm lên 2,5% và lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm lên 5,56%. Giới phân tích cho rằng đây là biện pháp bắt buộc để duy trì sự cân bằng trong nền kinh tế, mặc dù biết rằng tăng lãi suất có thể làm tăng dòng vốn nóng đổ vào trong nước do kỳ vọng đồng NDT lên giá, việc kiềm chế tỷ giá quá thấp so với giá trị thực tuy mang lại lợi ích cho Trung Quốc nhưng cũng gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ…
Các lo ngại và đánh giá thấp cách điều hành chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc là có cơ sở vì rằng trong quan điểm về điều hành chính sách tiền tệ luôn nhấn mạnh không bao giờ thực hiện đồng thời 2 việc tăng tỷ giá và tăng lãi suất. Theo lý thuyết, việc điều chỉnh tăng tỷ giá sẽ làm giảm nhu cầu của nước ngoài, nhu cầu của nước ngoài là động lực tăng trưởng của nền kinh tế, do đó việc tăng tỷ giá sẽ kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế, thậm chí có thể làm kinh tế suy yếu. Khi đồng tiền chịu sức ép lên giá, ngân hàng trung ương thường thực hiện biện pháp hạ lãi suất để hỗ trợ cho kinh tế tăng trưởng, hạ lãi suất chính là biện pháp bão hòa khắc phục các yếu tố bất lợi cho nền kinh tế do tăng tỷ giá gây nên.
Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc công bố các bài phân tích của giới học giả liên quan đến việc cần tăng lãi suất khi đồng NDT chịu sức ép lên giá đã cho ta hiểu hơn về lý do Trung Quốc bất ngờ tăng lãi suất. Trung Quốc tăng lãi suất không phải là biện pháp bắt buộc, mang tính chất bị động mà ngược lại, đó là việc được tính toán kỹ, có cơ sở khoa học. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc dựa trên những hiện tượng mang tính chất lịch sử, đã chứng minh và đưa ra các quan điểm mới về điều hành chính sách tiền tệ, đó là: Việc tăng tỷ giá và tăng lãi suất có thể được thực hiện trong cùng một thời gian, điều cốt yếu là cần thực hiện theo một trình tự trước, sau cho hợp lý. Đây là vấn đề mới về kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tổng kết từ thực tiễn và đưa ra thành một lý luận khoa học đáng được quan tâm và suy ngẫm.
“Hiện tượng lịch sử” được đưa vào phân tích ở đây chính là hiệp định được ký kết tại Newyork vào những năm 80 liên quan đến các biện pháp điều chỉnh tỷ giá cũng như những diễn biến kinh tế của các nước sau khi điều chỉnh. Cụ thể là:
Ngày 22/9/1985, Bộ Trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương 5 nước Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh đã nhóm họp tại Newyork để tìm ra các biện pháp giải quyết vấn đề mất cân đối toàn cầu. Hội nghị đã đi đến thống nhất, các nước phải tăng giá tiền tệ, chỉ có một nước duy nhất là Mỹ được quyền phá giá. Sau đó, nghị quyết của Hội nghị được thực thi, đồng USD liên tục bị mất giá, đồng tiền của các nước khác bị lên giá. Tỷ giá đồng Yên Nhật năm 1985 là 240Yên/USD, đến năm 1988 là 120 Yên/USD, đồng Mark, đồng Frans cũng lên giá trên 100% so với USD. Trong suốt thời gian 4-5 năm sau hội nghị, tình hình thương mại của các nước Nhât, Đức, Pháp vẫn lành mạnh, cán cân thương mại liên tục xuất siêu, có cảm giác là đồng tiền lên giá không ảnh hưởng gì đến cán cân thương mại của các nước.
Nhưng rồi một vấn đề lớn đã phát sinh: Sau một thời gian các nền kinh tế vận hành trơn tru, nền kinh tế Nhật Bản bất ngờ bị rơi vào suy thoái, cuộc suy thoái của Nhât Bản kéo dài suốt 10 năm. Tại sao trong số 4 nước phải tăng giá tiền tệ, chỉ 1 nước duy nhất là Nhật Bản bị suy thoái kinh tế kéo dài. Theo các nhà kinh tế, nguyên nhân chính là do Nhật Bản đã lựa chọn biện pháp ứng phó không thỏa đáng.
Để đối phó với sức ép phải tăng giá tiền tệ, Nhật Bản đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ triệt để bằng cách điều chỉnh lãi suất xuống rất thấp, lãi suất chiết khấu năm 1986 là 5%, đến năm 1987 hạ xuống còn 2,5%, đồng thời tăng mạnh khối lượng tiền cung ứng, năm 1985 mức tăng của khối lượng tiền cung ứng khoảng gần 8%, đến năm 1988 con số này tăng lên 12%. Bằng chính sách nới lỏng tiền tệ, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng mạnh, Nhật đã mua được một số công ty lớn của Mỹ, nhiều người hy vọng Nhật Bản sẽ trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, giấc mơ chưa trở thành hiện thực thì kinh tế Nhật Bản đã phải trả giá, nhiều bong bóng tài sản được hình thành và đến đầu những năm 90, bong bóng tài sản bị vỡ, giá bất động sản của Nhật bị giảm mạnh. Từ đó đến nay đã 10 năm, song nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thể hồi phục.
Đức là hình ảnh tương phản với Nhật Bản. Người Đức vốn dĩ nổi tiếng cẩn thận, họ không mơ trở thành nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, trong suốt thời gian tăng giá tiền tệ, Đức luôn thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tìm mọi biện pháp để hạn chế bong bóng tài sản, hạn chế lạm phát, nhờ vậy nền kinh tế giữ được sự phát triển cân đối và ổn định.
So sánh quá trình phát triển của 2 nền kinh tế lớn Đức và Nhật cho thấy nguyên nhân chính giúp cho một nước thành công, một nước thất bại đó là do mỗi nước thực hiện một chính sách tiền tệ khác nhau. Các nhà kinh tế Trung quốc cho rằng: Trung quốc hiện nay đang trong hoàn cảnh như Nhật, Đức vào những năm 80, đồng NDT chịu sức ép lên giá rất lớn từ Mỹ và các nước, do đó bài học của Đức và Nhật bản về thực hiện các biện pháp ứng phó là rất bổ ích.
Từ bài học của Đức và Nhật Bản, Trung Quốc đã phân tích và đưa ra một số cảnh báo sau:
- Lịch sử cho chúng ta biết, việc tăng giá tiền tệ của các nước xuất siêu không giải quyết được vấn đề mất cân đối toàn cầu. Đối với các nước suất siêu việc tăng tỷ giá ở mức độ hợp lý không có gì đáng sợ.
- Trong trường hợp tăng tỷ giá, ngân hàng trung ương cần phải quan tâm vấn đề hạn chế lạm phát và bong bóng tài sản.
- Cần phải thay đổi tư duy: Không thể đồng thời tăng tỷ giá và tăng lãi suất. Việc tăng lãi suất khi đồng tiền buộc phải lên giá có thể hạn chế được sự hình thành các bong bóng tài sản, nhờ vậy dòng tiền nóng sẽ không có cơ hội để đầu cơ kiếm lợi. Việc khống chế khối lượng tiền tệ cung ứng là rất cần thiết.
- Khi đồng NDT vẫn chịu sức ép lên giá, thì cần phải kiên quyết khống chế bong bóng bất động sản và chứng khoán.
Quyết định của Trung Quốc tăng lãi suất vừa qua có thể ví như một mũi tên bắn vào 3 mục tiêu: Lạm phát, bong bóng bất động sản và bong bóng chứng khoán. Việc Trung Quốc tăng lãi suất cũng ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế, hầu hết các đồng tiền (trừ USD) đều bị mất giá, riêng đồng USD lên giá, chỉ số đồng USD từ 77 điểm tăng lên 78,15 điểm. Chỉ 1 giờ sau tuyên bố của Trung Quốc giá vàng, giá đồng, giá dầu và giá nông sản trên thị trường quốc tế đã giảm gần 2,5%. Qua kinh nghiệm tăng lãi suất của Trung Quốc có thể rút ra bài học: Hiện nay, các điều kiện và hoàn cảnh của nền kinh tế vĩ mô thay đổi hàng ngày, do đó chính sách cũng phải thay đổi cho phù hợp, chỉ khi nào chính sách thay đổi kịp thời thì nó mới có thể phát huy được hiệu quả.
Phí Đăng Minh
SBV









