Nâng hoạt động chống rửa tiền thành luật
Quốc hội dự kiến sẽ thông qua Luật phòng, chống rửa tiền (PCRT) tại Kỳ họp thứ 3 vào tháng 5.2011 sau khi đã tổ chức cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2 vào tháng 10 năm nay.
Đây được xem là hành động thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc PCRT - vấn đề đã mang tính chất toàn cầu, không chỉ đe dọa làm mất ổn định hệ thống tài chính, mà còn ngăn cản sự thịnh vượng của các quốc gia. Hoạt động này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô, mà còn ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, an ninh quốc phòng…
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Nhóm Châu Á-Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) nên phải thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ thành viên của APG như phải thực hiện 40 khuyến nghị về chống rửa tiền và 9 khuyến nghị đặc biệt về chống tài trợ khủng bố của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF).
Năm 2008, APG tiến hành đánh giá cơ chế phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố của Việt Nam theo 40+9 của FATF. Kết quả đánh giá cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có những nỗ lực trong công tác PCRT và chống tài trợ khủng bố, song mức độ tuân thủ và thực hiện các khuyến nghị mà FATF đề ra còn nhiều hạn chế.
Thực hiện việc PCRT, Chính phủ đã ban hành Nghị định 74/2005/NĐ-CP. Qua hơn 5 năm thực hiện, Nghị định này đã bộc lộ không ít thiếu sót, đặc biệt là nội dung chống tài trợ khủng bố không được điều chỉnh trong Nghị định 74/2005/NĐ-CP. Ngoài ra, đối tượng có trách nhiệm PCRT chưa được mở rộng đối với công ty tín thác, công chứng viên, kế toán… và cũng chưa có những quy định về vấn đề ngân hàng vỏ bọc, tài khoản nặc danh, những người có ảnh hưởng chính trị (PEP)…
Hiện tại, Dự thảo Luật PCRT chưa được đem ra để lấy ý kiến tổ chức, cá nhân tuy nhiên, tuy nhiên, theo Bộ Tư pháp, về cơ bản, Luật PCRT sẽ cụ thể hoá các biện pháp ngăn ngừa rửa tiền và tài trợ khủng bố; thủ tục nhận biết khách hàng, thủ tục nhận dạng và cập nhật thông tin khách hàng; các ngưỡng giao dịch đối với sòng bạc và kinh doanh đá quý, kim loại quý; nội dung nhận dạng thông tin khách hàng và quy trình thẩm định thông tin cần phải thu thập về chủ sở hữu hưởng lợi...
Luật PCRT cũng sẽ có các quy định về mối quan hệ ngân hàng đại lý qua biên giới; quy trình nhận dạng và xác minh khách hàng hiện tại; những khách hàng có rủi ro cao và những người có ảnh hưởng chính trị (PEPs)... Ngoài ra, Luật cũng có các quy định liên quan đến việc theo dõi, cập nhật thông tin khách hàng, giám sát đặc biệt một số giao dịch, chuyển tiền điện tử, vận chuyển tiền và các công cục có thể chuyển nhượng qua biên giới.
Luật PCRT không chỉ áp dụng đối với cá nhân, tổ chức hiện đang sinh sống/hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, có giao dịch hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến tiền tệ hoặc các giao dịch tài sản khác cho các khách hàng tại Việt Nam mà còn áp dụng đối với cả cá nhân và tổ chức nước ngoài không sinh sống/hoạt động tại Việt Nam nhưng có giao dịch hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến giao dịch tiền tệ hoặc tài sản khác cho khách hàng tại Việt Nam.
Theo quy định hiện hành (Thông tư 22/2009/TT-NHNN) về PCRT, trước khi thiết lập mối quan hệ hoặc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, đặc biệt là thực hiện lệnh chuyển tiền thanh toán ra nước ngoài, tổ chức báo cáo (tổ chức tín dụng, đại lý đổi ngoại tệ, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán) phải rà soát khách hàng và các bên có liên quan theo danh sách cảnh báo. Tổ chức báo cáo phải đặc biệt quan tâm đến các giao dịch lớn, phức tạp, bất thường và kiểm tra kỹ lưỡng giấy tờ, tài liệu liên quan đến cơ sở và mục đích của giao dịch để phát hiện giao dịch đáng ngờ.
Mức giao dịch tiền mặt nằm trong đối tượng cảnh báo hiện nay là 200 triệu đồng. Theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện một hay nhiều giao dịch nộp hoặc rút tiền mặt trong ngày có tổng giá trị từ 200 triệu đồng trở lên đều được tổ chức cảnh báo “ghi nhận”. Tương tự, tổ chức, cá nhân thực hiện một hay nhiều giao dịch gửi hoặc rút tiết kiệm bằng tiền mặt trong một ngày có tổng giá trị từ 500 triệu đồng trở lên cũng đều được tổ chức cảnh báo “ghi nhận”. Tổ chức báo cáo sẽ rà soát, sàng lọc các giao dịch tiền mặt có giá trị lớn để phát hiện giao dịch đáng ngờ.
Hiện Chính phủ quy định 13 dấu hiệu được coi là giao dịch đáng ngờ. Cụ thể, công ty bảo hiểm thường xuyên đền bù hoặc chi trả bảo hiểm với số tiền lớn cho cùng một khách hàng; công ty chứng khoán chuyển tiền không phù hợp với các hoạt động kinh doanh chứng khoán; giao dịch khác mà các định chế tài chính thấy có biểu hiện bất thường hoặc cơ sở pháp lý không đáng tin cậy… được coi là có dấu hiệu đáng ngờ.
Ngoài ra, nếu có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản như tiền gửi vào và rút ra nhanh khỏi tài khoản, doanh số giao dịch lớn trong ngày, nhưng số dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng không; các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về một khoản tiền lớn hay chuyển qua nhiều tài khoản khác nhau về một tài khoản trong một thời gian ngắn hoặc ngược lại; tiền được chuyển lòng vòng qua nhiều tài khoản; các bên liên quan không quan tâm đến phí giao dịch… cũng được xem là có dấu hiệu đáng ngờ.
Ngoài 13 dấu hiệu được coi là giao dịch đáng ngờ, theo Ngân hàng Nhà nước, nếu như số điện thoại cá nhân hoặc cơ quan của khách hàng không thể kết nối được hoặc không có số máy này sau khi mở tài khoản hoặc thực hiện giao dịch hoặc khách hàng thường xuyên đổi tiền có mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn với tổng giá trị một lần đổi từ 200 triệu đồng trở lên cũng được coi là có dấu hiệu giao dịch đáng ngờ.
Trường hợp giao dịch gửi tiền, rút tiền hay chuyển tiền được thực hiện bởi một cá nhân hay tổ chức liên quan đến hoạt động bất hợp pháp mà thông tin đại chúng đã đăng tải; thông tin về các khoản vốn góp trong nghiệp vụ tài trợ, đầu tư, cho vay, cho thuê tài chính hoặc ủy thác đầu tư của khách hàng không rõ ràng, minh bạch về nguồn gốc; và thông tin về tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng xin vay vốn không rõ ràng, minh bạch về nguồn gốc cũng được Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức (…) xếp vào loại giao dịch có dấu hiệu đáng ngờ.
Mạnh Bôn
đầu tư









