Tin tức
Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước giá cả

Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước giá cả

14/01/2005

Banner PHS

Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước giá cả

Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước sự leo thang của giá cả. Lạm phát chủ yếu không từ nguyên nhân tiền tệ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy hôm mới đây đã trả lời nhiều câu hỏi của các nhà báo xung quanh diễn biến trên thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2004...

Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước sự leo thang của giá cả. Lạm phát chủ yếu không từ nguyên nhân tiền tệ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy hôm mới đây đã trả lời nhiều câu hỏi của các nhà báo xung quanh diễn biến trên thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2004.

 

- Thưa Thống đốc, theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, năm 2005 giá cả các mặt hàng trong nước sẽ tiếp tục tăng mạnh do ảnh hưởng của nhiều nhân tố giá thế giới. Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa ra biện pháp gì để kìm giữ chỉ số lạm phát không tăng quá so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra?

 

- Nguyên tắc là lãi suất do thị trường quy định, Ngân hàng Nhà nước (SBV) chỉ tác động thêm vào để thị trường không bị đột ngột. Đúng là hiện nay chúng ta đang có nhiều yếu tố cộng hưởng để làm tăng giá (lương thưởng Tết, tăng lương, cúm gà tái phát...) chính vì vậy các ngành các cấp cũng đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn tình trạng giá cả leo thang. Việc Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn từ 15-1 lên 0,5%/năm là tín hiệu đầu tiên nhằm ngăn chặn tình trạng lạm phát. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng như hiện tại và tùy vào diễn biến khách quan của thị trường để tiếp tục có những điều chỉnh hợp lý. Tuy nhiên, thông thường tốc độ tăng giá của quý I bao giờ cũng cao bằng 1/2 tốc độ tăng giá của cả năm, thậm chí còn cao hơn. Cho nên nếu tốc độ tăng giá quý I có cao hơn những tháng cuối năm 2004 thì cũng đúng theo quy luật.

 

- Có nhiều ý kiến cho rằng năm 2004 Ngân hàng Nhà nước phản ứng chưa kịp thời với việc tăng chỉ số giá cả hàng hóa, thậm chí Ngân hàng Nhà nước đã "bất lực" trước tình hình lạm phát?

- Có thể nhìn vào tình hình thực tế của lạm phát và các chính sách Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra để phán định điều đó. Tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước sự leo thang của giá cả, ngay từ đầu chúng tôi đã có những phân tích rất tỉnh táo về chiều hướng và nguyên nhân của lạm phát để từ đó có những chính sách thích hợp. Ngân hàng Nhà nước cho rằng nguyên nhân của lạm phát chủ yếu không bắt nguồn từ tiền tệ và Ngân hàng Thế giới cùng Quỹ Tiền tệ cũng đã có nhìn nhận đúng như vậy. Nguyên nhân chính không phải từ chính sách tiền tệ thì biện pháp chủ yếu cũng không phải từ chính sách tiền tệ. Nếu chúng ta có những thắt chặt quá đáng về chính sách tiền tệ thì không những không kiểm soát được chỉ số lạm phát mà còn không đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7,7% năm 2004. Chúng tôi sẽ nghiêm túc kiểm điểm nhìn lại và đưa ra Hội đồng chính sách tiền tệ để Hội đồng có sự phân định xem những việc làm của chúng ta đã đủ liều lượng chưa, đúng chưa để rút kinh nghiệm cho năm 2005.

 

Lạm phát 2004 là vấn nạn toàn cầu

 

- Thái Lan năm 2004 có những điều kiện tương đối giống Việt Nam, như cúm gà, chạy theo mục tiêu tăng trưởng, nhưng chỉ số lạm phát của họ chỉ có 4-5%, Thống đốc nghĩ thế nào?

 

- Lạm phát 2004 là vấn nạn toàn cầu. Chỉ duy nhất Nhật Bản là có vẻ vững chãi. Ngay cả Hàn Quốc cũng bị sức ép lạm phát nhưng Ngân hàng TW nước này đã quyết định hạ lãi suất vì mục tiêu tăng trưởng. Lạm phát của Thái Lan thấp hơn Việt Nam bởi nhiều yếu tố trong bản thân hệ thống tài chính ngân hàng, sự vững mạnh của nền kinh tế và hệ thống tài chính. Thái lan đã có nhiều năm trong vận hành kinh tế vĩ mô. Họ, cả về điều hành lẫn mặt bằng nền tài chính, đều hơn ta.

 

Đồng tiền Việt chưa phải là đồng tiền mạnh. Đồng tiền của các nước khác trong khu vực thời gian qua lên giá so với USD thì VND lại xuống giá, vì chúng ta yếu kém về kinh tế hơn họ. Bên cạnh đó, Việt Nam đã trải quan lạm phát phi mã, lòng tin về đồng tiền của người dân bị ảnh hưởng dẫn đến tâm lý dễ bị khuấy động.

 

Sự biến động giá cả thời gian qua cho thấy tính chất nền kinh tế của ta chưa có những "bộ giảm xóc". Chúng ta là nền kinh tế có độ mở quá lớn. Chúng ta mới "buôn thúng bán mẹt" chứ chưa làm ăn lớn được nhiều. Xuất khẩu bị thâm hụt nhiều, cùng với chưa có nhiều kinh nghiệm buôn bán trên thị trường tiền tệ thế giới dẫn đến việc chúng ta phải mua đắt bán rẻ, bán dầu thô thấp hơn thế giới 6 USD/thùng. Thiếu những hợp đồng kỳ hạn và chúng ta thường phải chịu những tác động xấu của thị trường nhiều hơn nước khác.      

 

- Năm 2004 lạm phát cao hơn cả lãi suất tiền gửi ngân hàng, người gửi tiết kiệm rất thiệt thòi vì lãi suất thực nhận tiền đồng là lãi suất âm. Năm 2005 Ngân hàng Nhà nước có ý định điều chỉnh mức lãi suất tiền gửi không?

- Điều hành hoạt động ngân hàng không chỉ căn cứ vào giá cả trong giai đoạn ngắn mà phải trên cơ sở lượng định cả một sự vận động vĩ mô trong một thời kỳ nhất định. Có khi giá cả cao nhưng lãi suất vẫn ổn định, có khi giá cả thấp vẫn phải tăng lãi suất bởi vì nó gắn với cung cầu vốn. Điều hành chung của Ngân hàng Nhà nước là làm sao, xét về tổng thể thì lãi suất ngân hàng phải mang tính thực dương, cao hơn tốc độ lạm phát, trượt giá thì mới giữ được ổn định vĩ mô.

Trong 4-5 năm qua, mức lạm phát bình quân là 4,5%/năm. Vì vậy người gửi tiền vẫn được đảm bảo lãi suất thực dương. Nhìn chung cả giai đoạn như vậy để thấy quyết định của người dân cũng như của ngân hàng là phải trên một cơ sở nền tảng ổn định và dài hạn thì mới điều chỉnh được vĩ mô. Không thể chạy theo những biến động ngắn hạn vì như thế sẽ mất ổn định vĩ mô cũng như thua thiệt cho nhà đầu tư.

 

Nguyên tắc của việc điều hành lãi suất của ngân hàng là lãi suất do thị trường tự quyết định. Ngân hàng Nhà nước chỉ có thể có những tác động nhất định hạn chế để làm cho thị trường không có những biến động đột biến. Lãi suất năm 2004 có xu hướng tăng nhẹ, lãi suất VND tăng 0,36%-0,6%/năm, lãi suất ngoại tệ tăng 0,15%-0,3%/năm. Năm 2005 áp lực phải tăng lãi suất không cao nhưng vẫn phải có những điều chỉnh nhất định về lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Thực tế mà nói các ngân hàng đang có những điều chỉnh lãi suất huy động để huy động được nhiều vốn hơn. Như trên đã nói, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có quyết định chính thức tăng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn từ ngày 15/1/2005.

 

Lãi suất cơ bản chỉ để định hướng

 

- Mức lãi suất VND cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng đã khá lâu trong khi tình hình giá cả tăng vọt và lạm phát năm 2004 rất cao, Thống đốc cho rằng lãi suất cơ bản như vậy đã hợp lý?

-
Nếu cứ giữ nguyên lãi suất cơ bản thì nó không phản ánh được thực tế thị trường. Nhưng lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước hiện nay chẳng để điều chỉnh cái gì cả. Không phải để điều chỉnh lượng tiền tái cấp vốn, cũng không phải quyết định việc cho vay của các tổ chức tín dụng.

Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ là lãi suất định hướng cho các ngân hàng rằng đây là lãi suất cho vay đối với khách hàng tốt nhất, rủi ro ít nhất, dự án hiệu quả nhất. Trước đây, nó phản ánh tương đối đúng thực tế. Một số dự án hiệu quả và khách hàng đã từng được vay vốn với mức lãi suất chỉ khoảng 7,5%/năm. Nhưng về sau nó không còn phù hợp nữa. Vì thấy rằng nó không phải là lãi suất chỉ đạo ai cả nên chúng tôi thấy không cần thiết phải thay đổi mức lãi suất này để tránh hiểu nhầm rằng Ngân hàng Nhà nước đánh ra một tín hiệu khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng lãi suất.

Năm 2004 có nhiều diễn biến nhạy cảm. Giá cả tăng, nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế cũng tăng và nếu tùy tiện để lãi suất tăng theo một cách không cần thiết thì có thể gây khó khăn cho tăng trưởng và tạo ra làn sóng cạnh tranh lãi suất để huy động vốn, từ đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao quá mức cần thiết. Chúng tôi chủ trương giữ ổn định cả mấy lãi suất chứ không riêng gì lãi suất cơ bản, kể cả lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu, mặc dù về mặt nào đó, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có tác động nhất định đến cung cầu trên thị trường. Công cụ mà chúng tôi tác động mới là dự trữ bắt buộc thôi.

Tuy nhiên, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem lại và sẽ đưa ra một loại lãi suất cơ bản đúng hơn, phù hợp hơn.

 

- Vừa rồi các chuyên gia Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã sang giúp Việt Nam tính toán về lạm phát cơ bản, đến nay việc này đã làm đến đâu rồi, Thống đốc có thể công bố kết quả không?

 

- Tiến trình này mới đang được khởi động, chưa có kết quả gì. Tính toán lạm phát cơ bản là việc của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước chỉ phối hợp thực hiện thôi.

Mệnh giá những đồng tiền sắp phát hành sẽ không cao hơn hiện tại

 

- Tiền giả đang là một vấn nạn, vừa rồi tại ĐBSCL, có những nông dân bán một vườn dưa chuột được 400.000 đồng thì đến 200.000 đồng là tiền giả. Ngân hàng Nhà nước có biết việc này không và giải pháp đối phó với tiền giả trong thời gian tới sẽ thế nào?

 

- Năm 2004, số tiền giả thu được qua hệ thống ngân hàng và Kho bạc Nhà nước là 16 tỷ đồng. Tôi chia sẻ tổn thất với những người nông dân và những người bị mất mát vì tiền giả và chúng tôi đang nỗ lực để giảm vấn nạn này.

Tới đây những đồng tiền bị làm giả nhiều sẽ bị loại ra khỏi lưu thông, ví dụ như đồng 100.000 đồng và 50.000 đồng bằng cotton để thay bằng đồng tiền polymer cùng mệnh giá.

 

Cũng trong năm 2005, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa vào lưu thông tiền làm bằng chất liệu polymer để thay dần tiền bằng chất liệu giấy cotton cũ và khi có điều kiện sẽ thu hồi, không đưa vào lưu thông những đồng tiền bằng chất liệu cotton để đảm bảo tính bền đẹp cũng như khả năng chống giả của tiền Việt Nam. Việc tiếp tục đưa tiền mới vào lưu thông sẽ không tạo ra sự bất ngờ cho công chúng và mệnh giá những loại tiền sẽ được phát hành sẽ không cao hơn những đồng tiền đã phát hành.

 

 - Vừa rồi Ngân hàng Nhà nước có đồng ý cho phép các NHTM tự trích quỹ dự phòng rủi ro để khoanh nợ cho một số trường hợp. Đây có phải sẽ là xu hướng sắp tới phổ biến trong hệ thống ngân hàng không?

 

- Sẽ có những nguồn từ ngân sách và những nguồn dự phòng để xử lý nợ. Tương lai sẽ theo xu hướng các ngân hàng muốn khoanh hay giãn nợ phải lấy từ nguồn dự phòng của mình. Đó là chiều hướng tích cực vì chúng ta phải tiến tới tách tín dụng chính sách với thương mại.

 

- Về đề án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB). Theo tôi biết vẫn nằm trên bàn Thống đốc, trong đó có nhiều điều khoản chưa được thống nhất giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Đến bao giờ quá trình CPH VCB mới khởi động?

 

- Hiện việc cổ phần hóa VCB có 2 phương án: phát hành cổ phiếu ưu đãi trước rồi mới phát hành cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phần hóa đồng bộ luôn. Dù chọn phương án nào thì CPH cũng không thể nhanh hơn được vì CPH một NHTM lớn rất mất thời gian và tiền của.

 

Trung Quốc cổ phần hóa 2 ngân hàng đã phải đưa ra 45 tỷ USD để xử lý nợ tồn đọng. VCB cũng vậy, như một mặt hàng, nếu bán được giá thì phải sửa chữa hết hỏng hóc. Nếu muốn bán được giá hơn thì phải bỏ tiền ra xử lý hết nợ xấu, khi đó tình hình tài chính mới lành mạnh được và thu hút các nhà đầu tư.

 

Nợ xấu hiện là 4,5%

 

- Có chuyên gia cho rằng tình hình nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam khá nghiêm trọng, xin ông cho biết quá trình xử lý nợ xấu đã tới đâu?

 

- Nợ tồn đọng trong các ngân hàng hiện hạch toán theo tiêu chuẩn Việt Nam đã xử lý được 90%. Chính xác nợ xấu trên tổng dư nợ hiện là 4,5%.

Mấy năm vừa qua khối NHTM cổ phần đã xử lý hết nợ xấu vì điều kiện của họ là chỉ được chia cổ tức sau khi đã trích lập dự phòng xử lý rủi ro. Còn tại 4 NHTM quốc doanh, có nhiều yếu tố làm nợ tồn đọng lớn. Theo chuẩn mực cũ thì các ngân hàng như VCB có thể xử lý nợ xấu xong sớm. Nợ xấu theo kế toán độc lập quốc tế của Ngân hàng Công thương (ICB) là hơn 6.000 tỷ. ICB, Ngân hàng Đầu tư (BIDV) và Nông nghiệp (Agribank) cũng phải đến hết 2006 mới xử lý dứt điểm.

 

- Năm 2004 được coi là thành công của khối ngân hàng cổ phần, vậy thị phần của các ngân hàng này đã tăng bao nhiêu phần trăm so với năm trước?

- Hiện thị phần khối ngân hàng TMCP là 13%, tăng trưởng không cao lắm nếu so sánh với cách đây 5-7 năm, khi hệ thống này mới cơ cấu lại thì thị phần là 10%. Nhưng các NH TMCP bây giờ đã tăng trưởng trên một chất lượng cao hơn, triển vọng phát triển sẽ năng động hơn.

 

Năm 2004 hệ thống cổ phần phát triển thành công trên con đường cơ cấu lại. Có 3 ngân hàng đã được chấm dứt kiểm soát đặc biệt và trở lại hoạt động bình thường. Một số ngân hàng cổ phần yếu kém tuy còn tên nhưng đang hoàn tất những thủ tục rút giấy phép, chuyển địa điểm, đổi tên như Vũng Tàu, Nam Đô, Việt Hoa. Ngân hàng TMCP Hải Phòng đổi tên thành Ngân hàng Đông Nam Á.

 

Thành tựu lớn nhất của khối ngân hàng cổ phần năm qua là làm vững mạnh tài chính, phát triển mạnh mẽ các nghiệp vụ và dịch vụ tín dụng an toàn, hiệu quả, lợi nhuận cao. Đối tượng cho vay vẫn bám sát DN ngoài quốc doanh với tín dụng rủi ro ít, hiệu quả cao và hỗ trợ đắc lực kinh tế tư nhân phát triển. Cổ phiếu của nhiều ngân hàng cổ phần được nhiều nhà đầu tư săn lùng.

VNN

Banner PHS
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng