Ngành xi măng: Hiện tại khó khăn, tương lai vẫn chưa hết khó
Hiện nay, ngành xi măng phải cùng lúc chịu đựng nhiều sức ép: nhu cầu thị trường không tăng như trước, các loại chi phí đầu vào tăng từ 5% đến trên 35% và sức ép trả nợ đầu tư do hơn một nửa năng lực sản xuất của ngành đều là thuộc những dự án mới xây dựng.
Đầu năm 2011, Bộ Xây dựng dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng năm nay sẽ tăng gần 10% và đạt 56 triệu tấn, một tỷ lệ hơi khiêm tốn so với tốc độ bình quân của năm năm trước đó. Nhưng đến nay, con số trên đã vượt ra ngoài tầm tay của ngành này. Sau kết quả tiêu thụ khá ảm đạm của sáu tháng đầu năm, các doanh nghiệp xi măng đang dự báo lại khả năng tiêu thụ và mục tiêu mới là 53 triệu tấn. Đây sẽ vẫn là một mục tiêu rất khó đạt được, khi mà hai phần ba trong quãng thời gian còn lại của năm là mùa mưa.
Trong nửa đầu năm nay, thị trường Việt Nam chỉ tiêu thụ gần 24,6 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, để đạt mục tiêu 53 triệu tấn, trong nửa cuối năm các doanh nghiệp phải bán được trên 28 triệu tấn nữa. Miền Nam là khu vực có tốc độ tăng nhu cầu bị suy giảm mạnh nhất, với sản lượng tiêu thụ chỉ tăng 3%, tiếp đến là miền Bắc với 4,9% và miền Trung tăng 6%. Trong khi đó, năng lực sản xuất xi măng thì lại tăng rất mạnh. Đến nay, tổng công suất của ngành đã đạt 65 triệu tấn, trong đó hơn một nửa là từ các dây chuyền sản xuất mới được xây dựng trong vòng bốn năm trở lại đây.
Tổng giám đốc một công ty xi măng lớn cho biết, nhu cầu sụt giảm mạnh nhất là ở thị trường xi măng bán cho các công trình lớn, như cầu đường, các tòa chung cư và cao ốc thương mại và trong phân khúc này, miền Nam là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Mức tiêu thụ ở khu vực này tại miền Nam đã giảm tới 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Hơn nữa, tình trạng ảm đạm của thị trường địa ốc và các công trình xây dựng của Nhà nước còn tác động xấu đến vòng quay vốn của doanh nghiệp.
“Trước đây, chỉ 30-45 ngày sau khi giao hàng là chúng tôi lấy được tiền, nhưng nay đến 90 ngày mà chưa lấy được tiền là chuyện bình thường”, ông cho biết. “Vòng quay vốn chậm, trong khi lãi suất vay ngân hàng quá cao, càng làm cho chi phí tài chính tăng. Với tình cảnh như thế, doanh nghiệp xi măng cầm chắc là chết”, ông nói thêm.
Nhưng sức ép đối với các nhà sản xuất xi măng đâu chỉ có thế. Từ đầu tháng 4-2011 đến nay, các chi phí đầu vào đều đồng loạt tăng. Tăng mạnh nhất là than, với mức tăng tới 41%. Chỉ riêng phần này đã làm cho giá thành sản xuất clinker, bán thành phẩm xi măng, tăng tới 12%, tiếp đến là dầu DO tăng gần 20%. Các chi phí khác như cước vận tải, giá phụ liệu, bao bì... cũng tăng từ gần 7% trở lên.
Dù chi phí đầu vào tăng như vậy, nhưng nhiều doanh nghiệp lại không dám điều chỉnh giá bán lên tương ứng, vì trong tình hình thị trường cung đang vượt cầu khá xa như hiện nay, tăng giá đồng nghĩa chấp nhận mạo hiểm. Một số công ty không còn sức chịu lỗ nên đành liều mình tăng giá.
Đau đầu nhất đối với nhiều công ty xi măng hiện nay là tìm kiếm nguồn để trả nợ vay đầu tư. Đây là vấn đề của gần hai phần ba số doanh nghiệp của ngành này hiện nay. Riêng Tổng công ty Xi măng Việt Nam, số nợ đến hạn phải trả trong năm nay lên đến 3.700 tỉ đồng. Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá chính thức tăng thêm hơn 9% vào quí 1 năm nay đã là một cú sốc đối với nhiều công ty xi măng. Chẳng hạn như với Công ty Xi măng Hà Tiên, việc điều chỉnh tỷ giá đã khiến cho doanh nghiệp này mất đứt hơn 300 tỉ đồng.
Hiện nay, bên cạnh các công ty có lợi thế nhờ đã khấu hao hết và không còn bị áp lực nợ nần, nên khá ổn định, rất nhiều doanh nghiệp xi măng khác đang ăn dần vào vốn và một số thì rất nguy cấp. Trong đó, Công ty Xi măng Sông Gianh đang thua lỗ nặng và đã có lúc phải ngưng hoạt động. Còn Công ty Xi măng Cẩm Phả thì cho đến nay đã thâm lạm đến một nửa vốn và chủ đầu tư của công ty đang phải thương lượng để bán lại phần lớn cổ phần cho Tổng công ty Xi măng Việt Nam.
Sự mất cân đối giữa cung và cầu chưa phải là vấn đề lớn với ngành xi măng hiện nay. Giả sử các nhà máy hiện có chạy hết công suất, thì lượng xi măng dư thừa so với sức tiêu thụ của thị trường nội địa là khoảng 12 triệu tấn. Nếu kinh tế Việt Nam không rơi vào tình cảnh khó khăn, thì chỉ hai năm nữa là cầu sẽ bắt kịp cung. Vấn đề đáng lo là ở chỗ phong trào xây dựng nhà máy xi măng vẫn chưa dừng lại.
Hiện tại, vẫn còn hàng chục dự án xi măng đang và sẽ triển khai và với đà này, đến năm 2015 công suất của ngành xi măng Việt Nam sẽ lên đến 90 triệu tấn. Đến khi ấy, tình trạng khủng hoảng thừa sẽ còn nghiêm trọng hơn hiện nay rất nhiều. Với chiều hướng đó, dù kinh tế Việt Nam có ra khỏi khó khăn và bước vào giai đoạn tăng trưởng mới, thì tương lai của ngành xi măng, ít nhất là trong năm năm tới, cũng sẽ vẫn ảm đạm và đầy khó khăn.
Tấn Đức
tbktsg









