Nhu cầu lúa gạo sẽ giảm mạnh trong 10 năm tới
Là một chuyên gia quốc tế có uy tín về thị trường lúa gạo thế giới, GS Peter Timmer, chuyên gia cao cấp tại Trung tâm hội nhập toàn cầu - cơ quan nghiên cứu và tư vấn chính sách của Hoa Kỳ - nói về nhu cầu lúa gạo năm 2011 của thế giới và câu chuyện xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Giáo sư Peter Timmer: “Năm nay là thời điểm thích hợp để chính phủ Việt Nam xem xét chiến lược phát triển lúa gạo từ nay đến năm 2030 nhằm đảm bảo chất lượng và số lượng gạo cho cả thị trường trong nước và quốc tế”.
- Theo kinh nghiệm và quan sát của ông, ông có cho rằng khủng hoảng lương thực đang hoặc sẽ diễn ra hay không?
Theo quan điểm của tôi, ở một phạm vi nhất định chúng ta đang ở trong khủng hoảng. Tuy nhiên, nó không nghiêm trọng như các năm 2007 và 2008 nhưng cũng tương tự như các năm 1972 và 1973.
Chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề, tại sao chúng ta cứ để những khủng hoảng lương thực diễn ra liêp tiếp như vậy. Cách đây khoảng gần 30 năm, thế giới đã phải đối mặt với với tình trạng giá cả lương thực xuống rất thấp và tình trạng này kéo dài trong 20 năm từ đầu những năm 1980 tới tận đầu năm 2000.
Trên thực tế, chúng ta có rất ít sự đầu tư vào những nghiên cứu về nông nghiệp và môi trường. Một lần nữa tôi lại phải nhấn mạnh rằng, khủng hoảng lương thực đang diễn ra và điều quan trọng là chúng ta phải xác định được vấn đề trọng tâm là gì và tìm hướng giải quyết nó.
- Xin ông cho biết vai trò của lúa gạo trong khủng hoảng lương thực hiện nay là như thế nào?
Vào tháng trước, tình hình cũng giống như vào năm 2008. Trên thực tế, vào thời điểm đó không có sự thiếu hụt về gạo, song nỗi lo lắng đã diễn ra tại nhiều nước trên thế giới. Ví dụ Philipines đã nhập khẩu nhiều hơn 1 triệu tấn gạo so với nhu cầu trước đây và chấp nhận mua gạo với mọi giá.
Ấn Độ đã ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo. Những diễn biến về thị trường gạo tại Việt Nam cũng khiến mọi người phải lo lắng.
Vào thời điểm hiện tại, đã có sự thay đổi so với cuộc khủng hoảng vào năm 2008. Ví dụ như tại PhiliPines, nước này có một chính phủ mới với hàng loạt các chính sách mới và họ rất cẩn trọng trước những biến cố của thị trường gạo quốc tế. Còn Ấn Độ, tôi không cho rằng nước này sẽ lại ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo lần thứ 2 kể từ năm 2008. Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng vào thời điểm hiện tại. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc FAO đã cùng hợp tác để giải quyết vấn đề. Và đây chính là điểm khác biệt giữa khủng hoảng của năm 2008 và năm 2010.
Hiện nay, chúng ta vẫn có thể kiểm soát giá cả của ngô và lúa mỳ trên thị trường quốc tế nên tăng giá là điều rất khó.
- Vậy nguyên nhân của việc tăng giá lương thực hiện nay là gì?
Đó là vấn đề lúa mỳ tại Bắc Phi.
- Ông có nghĩ rằng giá gạo sẽ tăng lên trong năm nay không?
Theo ý kiến của riêng tôi, giá tăng hiện nay là một lợi thế lớn. Vào năm 1996, để mua 1 tấn gạo bạn phải mất khoảng 280 đô la Mỹ, nhưng vào thời điểm hiện tại, bạn phải mất khoảng 480 đô la Mỹ. Điều đó cho thấy có sự tăng lên đáng kể về giá gạo. Nông dân Việt Nam có thể tăng thu nhập khi họ xuất gạo ra với giá bán đó và tôi khuyến khích nông dân Việt Nam nên tham gia vào hoạt động sản xuất lúa gạo và hài lòng với giá bán gạo như hiện nay.
Năm nay là một cơ hội lớn đối với ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam. Năm nay cũng là thời điểm thích hợp để chính phủ Việt Nam xem xét chiến lược phát triển lúa gạo từ nay đến năm 2030 nhằm đảm bảo chất lượng và số lượng gạo không những cho thị trường trong nước mà còn cả thị trường quốc tế.
- Theo ông khu vực nào trên thế giới có nguồn cung, cầu cân bằng và khu vực nào cần phải nhập khẩu với số lượng lớn?
Trên phạm vi toàn cầu thì khu vực Trung đông đang thiếu lương thực, nhất là lúa mỳ và gạo. Do vậy, trong thời gian tới khu vực này sẽ phải tăng cường nhập khẩu không chỉ gạo, lúa mỳ mà thậm chí là cả ngô để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ấn Độ và Trung Quốc là 2 nước có thể đảm bảo cân bằng nguồn cung và cầu trong thời gian tới. Tuy nhiên, họ vẫn phải nhập một ít.
Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là thị trường gạo sẽ như thế nào trong tương lai? Chúng ta không thể nào trông chờ vào Indonesia, PhiliPines bởi họ vẫn đang tiến hành những đổi mới trong hoạt động sản xuất lúa gạo. Nếu so với Indonesia, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp của họ không bằng. Tuy nhiên, về tương lai không xa, hai nước này sẽ có những bước tiến mạnh mẽ trong xuất khẩu lúa gạo.
Theo tôi, Việt Nam nên tìm kiếm nhiều thị trường quốc tế hơn nữa để xuất khẩu gạo chất lượng cao. Như vậy, người nông dân sẽ càng được hưởng lợi.
- Ý kiến của ông như thế nào về nhận định “châu Phi là một thị trường xuất khẩu tiềm năng cho gạo Việt Nam”?
Cá nhân tôi thì hơi hoài nghi một chút. Bản thân tôi đã bỏ ra 1/3 thời gian làm việc tại Quỹ Bill và Melinda Gates. Phần lớn nguồn ngân sách của quỹ được sử dụng để phát triển nông nghiệp tại các nước châu Phi, bởi châu Phi là khu vực còn nhiều khó khăn trong việc phát triển ngành trồng trọt bền vững. Và đối với những người dân châu Phi thì gạo chính là hy vọng. Theo phân tích của tôi, nhu cầu về gạo ở đây đang ngày càng gia tăng, vượt quá nguồn cung nội địa.
- Nhìn dài hạn, liệu giá sẽ vẫn ở mức cao?
Theo tôi, giá gạo như hiện tại đang tạo ra khá nhiều lợi nhuận cho các nhà sản xuất gạo và thu hút đầu tư cải tiến công nghệ để phát triển sản xuất gạo. Tôi khá lạc quan rằng, trong khoảng thời gian 10 năm nữa, chúng ta sẽ chứng kiến nhiều sự cải tiến về kỹ thuật và công nghệ nhằm tăng năng suất gạo. Và nếu trong xu hướng tiêu dùng gạo giảm, nguồn cung gạo lại tăng thì áp lực về giá sẽ dần giảm đi.
Các thị trường như Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia… là khu vực tiêu thụ tới 65% lượng gạo trên thế giới. Giá gạo ở các thị trường này hiện vẫn đang cao, và dự đoán của tôi là mức giá này sẽ vẫn còn tăng trong thời gian tới. Nhưng thực sự thì tiêu dùng gạo tại 3 nước này đang có dấu hiệu giảm. Đó chính là lý do mà tôi nói nhu cầu gạo trong khoảng 10 năm nữa sẽ giảm, các áp lực về giá sẽ giảm nhẹ trên toàn thế giới.
- Theo ông, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam nên có các hướng phát triển như thế nào trong thời gian tới, dựa vào các điều kiện mà ông vừa đưa ra?
Đương nhiên, trước hết Việt Nam phải đảm bảo nguồn cung gạo ổn định và đáng tin cậy. Và dần dần, Việt Nam nên phát triển chất lượng gạo để có thể xuất khẩu các sản phẩm chất lượng cao hơn, với mức giá có lợi hơn ra thị trường, vì trên thế giới nhu cầu về gạo chất lượng cao là rất lớn. Điều này sẽ là một thử thách lớn đối với những người nông dân. Họ sẽ phải cải thiện về mặt công nghệ, kiến thức,… đồng thời cũng phải có chuỗi cung ứng sản phẩm tốt hơn: từ khâu lưu kho, xay, xát… Tất cả các quy trình đều phải được hoàn thiện tốt để có thể cho ra được sản phẩm chất lượng cao đặc trưng của Việt Nam được toàn thế giới biết đến, như một thương hiệu gạo chất lượng đáng tin cậy. Đây là cả một quá trình phức tạp.
- Như ông đã nói, giá gạo hiện nay đang khá là thuận lợi để có thể tận dụng nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng theo ông, Việt Nam đã làm được những gì, hay nói đúng hơn là đã tận dụng được cơ hội này như thế nào?
Theo tôi, Việt Nam còn hơi chậm trong việc nắm bắt cơ hội này. Nguyên nhân có thể là do hệ thống cấp phép xuất khẩu còn hơi rườm rà với nhiều thủ tục. Ngoài ra, vẫn còn một sự thiếu liên kết khá lớn giữa những người đứng ra chịu trách nhiệm chế biến và những người nông dân. Và tôi cũng hy vọng trong thời gian tới Việt Nam sẽ có một hệ thống xuất khẩu rõ ràng và hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp thông tin nhanh hơn tới người nông dân. Bỗng dưng tôi nghĩ tới một chuỗi siêu thị trong và ngoài nước nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cũng như phân phối các sản phẩm gạo cho thị trường trong nước. Điều này sẽ khiến cho người nông dân có ngay các thông tin về tình hình tiêu dùng, thị hiếu của người tiêu thụ, để có thể đáp ứng được các thay đổi một cách nhanh nhạy và hiệu quả.
- Việt Nam nên làm gì để duy trì các thị trường tiêu thụ gạo?
Điều đầu tiên là Việt Nam nên đảm bảo một quy trình marketing hiệu quả, cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc xuất khẩu như cầu cảng tốt, hệ thống nhà kho đảm bảo, phương tiện vận chuyển đường biển an toàn. Điều này còn quan trọng hơn cả việc cải tiến công nghệ và kỹ thuật trồng trọt. Theo tôi thì mục tiêu mà Việt Nam nên hướng tới chính là “Người nông dân là trung tâm, Nhà nước phải nắm giữ vai trò thúc đẩy và đáp ứng các nhu cầu thị trường”.
- Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư! DN
Thanh Lan
Doanh nhân









