Nợ công tăng nhanh: Rủi ro và thách thức
Số liệu từ Bộ Tài chính cũng như các tổ chức quốc tế đều cho thấy một xu hướng đang tăng nhanh của nợ công Việt Nam trong những năm gần đây. Nợ công nước ngoài và tổng nợ công đã vượt các mức 30% và 50% GDP.
Vẫn trong ngưỡng an toàn nhưng đã bộc lộ rủi ro
Theo báo cáo mới đây của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), tổng số dư nợ công của Việt Nam tính đến hết năm 2010 là 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010. Dự kiến tổng nợ công năm 2011 còn tăng cao hơn, ở mức 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% GDP năm 2011.
Trong khi đó, tổng dư nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến ngày 31/12/2010 là 835 nghìn tỉ đồng, bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự báo sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.
Những số liệu này vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo định hướng phát triển tài chính của Việt Nam, nhưng nó cũng phát đi những cảnh báo về việc cần thiết phải thay đổi kế hoạch chi tiêu ngân sách nhằm giảm tốc độ tăng nhanh của nợ công trong những năm tới.
So với nợ công trong nước thì nợ công nước ngoài của Việt Nam có rủi ro lãi suất khá thấp so với gần 85% nợ nước ngoài của Chính phủ có mức lãi suất ưu đãi dưới 3%. Tuy nhiên, các khoản nợ thương mại với lãi suất cao đang tăng lên (trên 8% tổng dư nợ nước ngoài có mức lãi suất 6 - 10%). Cùng với việc trở thành nước có mức thu nhập trung bình, nền kinh tế đang bộc lộ những rủi ro ngày càng rõ nét sẽ khiến Việt Nam khó có thể tiếp tục thu hút được những khoản nợ lãi suất thấp trong thời gian tới.
Mặc dù khả năng thanh toán và thanh khoản của nợ công vẫn ở mức an toàn nhưng bức tranh vĩ mô của Việt Nam khá ảm đạm. Lạm phát và lãi suất trái phiếu chính phủ của Việt Nam hiện đã vượt 11%/năm, một dấu hiệu thường xảy ra ở các nước trước khi có khủng hoảng nợ.
Giải pháp số 1: Chi tiêu tiết kiệm và hiệu quả
Xét theo biến động tỷ giá, sự yếu đi liên tục của đồng Việt Nam đang khiến các khoản vay bằng ngoại tệ tăng lên về quy mô nếu tính theo đồng nội tệ. Tuy nhiên, với tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam (lên đến 110% trong giai đoạn 2002 – 2010), giá trị thực của các khoản nợ lại đang giảm. Điều này hàm ý rằng gánh nặng nợ của Chính phủ đang san sẻ sang người dân thông qua thuế lạm phát.
|
Tỷ lệ nợ so với GDP của Việt Nam trong những năm qua. (*): Dự kiến. Số liệu: MPI, WB |
Theo dự đoán của các chuyên gia kinh tế tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách (VERP), nhiều khả năng nợ công Việt Nam sẽ tạm chững lại trong năm 2011 do lạm phát tăng mạnh. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, tỷ lệ nợ công sẽ tăng dần đều và đạt mức 64% GDP vào năm 2015 và 80% vào năm 2020. Kịch bản này đòi hỏi Chính phủ phải đưa dần thâm hụt ngân sách tổng thể từ 7,7% trong năm 2009 xuống còn 4,3% năm 2011, 3,1% trong năm 2015 và 2,8% GDP trong năm 2020.
Được biết, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại đang nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp lý, có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước ngoài một cách hiệu quả. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp bộc lộ nhiều bài học cho các nền kinh tế, trong đó có bài học lớn về sự thiếu minh bạch thông tin. Chúng ta nên có những cải cách trong thống kê về nợ công nói riêng, ngân sách nói chung, cho phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao tính khoa học và minh bạch trong thống kê.
Theo các chuyên gia, nếu không có kế hoạch thắt chặt chi tiêu, thì hoặc là thâm hụt ngân sách sẽ lại tăng dẫn đến nợ công tăng vượt dự kiến, hoặc lại gây lạm phát cao và nội tệ mất giá mạnh.
Xét về nguồn thu, tổng thu của VN từ thuế và phí chiếm khoảng 21,5% GDP, cao hơn rất nhiều các nước khác trong khu vực. Ngoài ram thu ngân sách phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ việc bán tài sản, tài nguyên, thuế thương mại quốc tế. Đây đều là những nguồn thu kém bền vững, và có nguy cơ suy giảm trong những năm tới khi tài nguyên và tài sản thuộc sở hữu nhà nước cạn dần, Việt Nam phải thực hiện đầu đủ các cam kết khi gia nhập WTO.
Lúc này, biện pháp duy nhất là phải thực hiện các chương trình cắt giảm chi tiêu công quyết liệt và với định hướng lâu dài. Đặc biệt là cần tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt động vay vốn và đầu tư. Theo ý kiến của một chuyên gia của Bộ Tài chính, việc đánh giá nợ nhiều hay ít không quan trọng bằng vốn vay nợ được sử dụng như thế nào.
Hoàng Yến
vnmedia









