Rào cản xanh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới góc nhìn của luật sư quốc tế
Tại buổi hội thảo do Green Leader Coaching (GLC) tổ chức vào ngày 17/04, ông Nguyễn Trung Nam, Luật sư, nhà sáng lập EPLegal đã chia sẻ về một rào cản phi thuế quan mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tại Việt Nam phải đối mặt trong công cuộc chuyển đổi xanh, nhằm đáp ứng mục tiêu NetZero năm 2050.
Sự kiện Hội thảo quốc tế "Phát triển tương lai bền vững 10" hướng tới Ngày Trái đất 2026 do GLC tổ chức
|
Trong khuôn khổ sự kiện, Luật sư Nguyễn Trung Nam, nhà sáng lập EPLegal, đã chia sẻ câu chuyện rào cản dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) trong công cuộc chuyển đổi xanh, hướng về mục tiêu Net Zero năm 2050 của đất nước. Đó là các rào cản kỹ thuật xanh - Greentech Barrier (GTB).
Luật sư Trung Nam cho biết, các doanh nghiệp SME tại Việt Nam chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực về logistic, nông nghiệp, giày da và xuất khẩu, trong đó đa phần là nông nghiệp. Tuy nhiên, trong định hướng phát triển xanh toàn cầu, lĩnh vực này vướng phải rào cản GTB.
“Trước kia, doanh nghiệp chỉ cần cạnh tranh dựa trên các lợi thế như nông dân giá rẻ, nguồn tài nguyên trù phú. Nhưng khi đặt vấn đề về quy trình sản xuất, hoạt động trong công ty hay nhà máy phải thay đổi, doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp những vấn đề lớn, đến mức không thể vượt qua. Đó là các rào cản công nghệ” - trích lời Luật sư Trung Nam.
Các rào cản này được đánh giá có thể nghiêm trọng hơn hạn chế về thuế quan - thứ có thể được bù đắp nhờ tăng giá bán. Bởi lẽ, GTB không phải là thuế.
“Một hộp trà xuất khẩu đi nước ngoài, ở góc có hình ba chiếc lá, là bằng chứng nó đã được đủ điều kiện xuất khẩu đến các quốc gia có yêu cầu về ESG. Để làm được việc đó, thì doanh nghiệp phải làm gì? GTB bao hàm rất nhiều công cụ để đảm bảo hệ thống chuỗi cung ứng, cung cấp hàng hóa, dịch vụ làm giảm phát thải carbon và đảm bảo môi trường tốt nhất. Nó gồm có hai phần: thứ nhất là hệ thống các quy định, tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật, và thứ hai là các quy trình để đảm bảo các tiêu chuẩn đó được tuân thủ”.
Rào cản thuế carbon và tiêu chuẩn nghiêm khắc
Theo Luật sư Nam, GTB được chia làm 2 loại. Thứ nhất, là dùng hệ thống đánh thuế đối với những thứ gây ô nhiễm môi trường - càng ô nhiễm càng đánh thuế cao. Ví dụ như ở Anh, đi một chiếc xe ô tô vào trung tâm, tiền phí gửi xe khoảng 17 bảng Anh, tiền phí môi trường khoảng 24 bảng, tổng cộng bằng 4-5 chuyến tàu điện ngầm. Nhưng các xe chạy bằng điện thì sẽ không mất đồng nào.
Luật sư Nguyễn Trung Nam - Nhà sáng lập EPLegal tại sự kiện
|
“Có nghĩa, họ sẽ đánh thuế rất nặng vào các hoạt động phát thải. Tương tự, hàng hóa nhập khẩu cũng sẽ bị các chế độ như vậy để đảm bảo càng ngày càng ít dùng những sản phẩm tạo ra nhiều khí thải carbon”.
Thứ 2 là tiêu chuẩn, tức là các lựa chọn kỹ thuật không gây hại cho môi trường mà doanh nghiệp phải thực hiện. Ví dụ như nhà máy điện tại Việt Nam trước đây dự kiến có đến 90 nhà máy, nhưng đến năm 2017 bắt đầu bị siết tín dụng, không ưu đãi hay cam kết cho các dự án vốn của nhà máy nhiệt điện. Sau COP26, Việt Nam đã cam kết Net Zero vào 2050, với lộ trình cam kết đến năm 2030 không còn xây nhà máy nhiệt điện nào nữa.
“Nhà máy nhiệt điện than đã có thì đến năm 2050 sẽ phải đóng cửa. Nếu năm 2050 vẫn chưa đóng cửa sẽ bị dỡ bỏ. Vòng đời của những nhà máy sử dụng kỹ thuật gây phát thải nhiều sẽ bị yêu cầu cấm hoạt động. Đây là sự thể hiện rất rõ nhu cầu về tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật”.
Trước các rào cản này, doanh nghiệp SME đối mặt với tình huống khó. Đây là nhóm doanh nghiệp có số vốn nhỏ, khó lòng đáp ứng được các yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật.
“Về cơ bản, đây là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Nếu áp đặt mạnh tay, họ không thể thích ứng được. Ví dụ, nhiều doanh nghiệp gỗ ở Bắc Ninh hoặc xưởng dệt may có quy mô rất nhỏ nhưng khả năng gây ô nhiễm cực kỳ lớn. Nếu chính quyền áp đặt các tiêu chí không được ô nhiễm môi trường, phải làm sạch, không thải nước, khí ra môi trường theo đúng tiêu chuẩn Net Zero, các doanh nghiệp này có thể nói là… phá sản gần hết, vì họ chỉ có thể tồn tại và có lợi nhuận nhờ giá rẻ. Khi áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào, chi phí đầu tư cho công nghệ xanh là quá lớn”.
Tuy vậy, ông Nam cho rằng hiện tại có nhiều quỹ trên thế giới đang cố gắng hỗ trợ cho những doanh nghiệp này bằng cách cung cấp vốn để xanh hóa kỹ thuật, dù vẫn còn hạn chế tại Việt Nam.
“Trước đây, quá trình khai thác có thể gây ô nhiễm và tăng carbon, thì giờ sẽ được cấp vốn để chuyển sang kỹ thuật tốt hơn. Các doanh nghiệp SME được hỗ trợ vốn ưu đãi, khoản vay với mức lãi suất rất thấp, thậm chí không có lãi. Thế nhưng khó khăn là hiện nay việc tiếp cận ở Việt Nam vẫn rất khó. Các ngân hàng nói về xanh rất nhiều, nhưng thực tế chi trả cho các khoản này không quá đáng kể”.
Những nút thắt cần tháo gỡ để NetZero
Luật sư Nam cho biết, Việt Nam dù sẵn sàng đi trước các nước phát triển trong việc cam kết NetZero, nhưng đang tồn tại điểm yếu rất lớn là không có cơ chế hiệu quả để đo lường.
“Từ giờ đến năm 2050, lộ trình loại bỏ carbon như thế nào? Theo đánh giá của các cơ quan môi trường thế giới, khâu yếu nhất của Việt Nam là đo lường. Không thể một ngày đẹp trời tự nhiên carbon biến mất, mà phải có lộ trình từ 2025, 2030, rồi 2050”.
Đã là 7 năm kể từ lúc cam kết COP26, và hiện tại Việt Nam vẫn ở giai đoạn 1 là đánh giá. Trong khi đó, lộ trình đòi hỏi phải qua 3 giai đoạn nữa là số hóa dữ liệu - đưa các dữ liệu điện tử vào đo lường doanh nghiệp - rồi báo cáo dữ liệu, và cuối cùng là tái định hướng chiến lược để hội nhập thị trường, ghép nối doanh nghiệp Việt Nam vào hệ thống chuỗi cung ứng thế giới với tiêu chuẩn xanh.
“Một thực tế là để tìm một doanh nghiệp có dấu xanh của EU tại Việt Nam tương đối hiếm. Con dấu đó cần tốn rất nhiều tiền, công sức để chuẩn hóa và xuất khẩu. Đây là một hàng rào phi thuế quan cực kỳ quan trọng, thứ mà trong tương lai tất cả các doanh nghiệp SME sẽ cần phải đáp ứng”, ông Nam nhận xét.
Châu An









