Siêu đô thị, siêu cơ hội: Từ mở rộng không gian đến yêu cầu nâng tầm năng lực doanh nghiệp
Tại Diễn đàn “Siêu đô thị, Siêu cơ hội”, GS.TS Nguyễn Đức Thuận, Chủ tịch Hội các Nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, cho rằng TPHCM đang đứng trước một bước ngoặt mang tính chiến lược, mở rộng quy mô địa lý, dân số; sâu sắc hơn là tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, tổ chức lại không gian phát triển và định vị lại vai trò của thành phố trong mạng lưới các đô thị lớn của châu Á và thế giới.
Theo ông, sự tích hợp không gian phát triển giữa TPHCM với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đã hình thành một không gian đô thị mới rộng 6,700 km2, với quy mô dân số hơn 14 triệu người.
Điều quan trọng không nằm ở những con số mà ở việc không gian mới này có khả năng hội tụ đồng thời nhiều lợi thế chiến lược như trung tâm công nghiệp và sản xuất công nghệ cao, cảng biển nước sâu, hệ thống logistics quốc tế, trung tâm tài chính - dịch vụ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là nền tảng để TPHCM trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực phía Nam, từng bước khẳng định vị thế cạnh tranh với các siêu đô thị hàng đầu châu Á.
Không gian lớn phải đi cùng năng lực kết nối
GS.TS Nguyễn Đức Thuận nhấn mạnh, một siêu đô thị không được tạo nên đơn thuần bằng việc ghép ba địa phương thành một không gian lớn hơn. Điều quan trọng là khả năng kết nối các nguồn lực thành một chỉnh thể phát triển thống nhất, nơi giá trị tạo ra lớn hơn phép cộng của từng địa phương riêng lẻ.
Cùng với việc mở rộng không gian, TPHCM cũng đứng trước một bước chuyển quan trọng về thể chế. Theo ông, định hướng đến năm 2045 xây dựng TPHCM trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á; đến năm 2075 trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, đặt ra một thay đổi căn bản trong tư duy quản trị đô thị.
Các cơ chế mới, trong đó có Luật Phát triển đô thị và các chính sách đột phá, được kỳ vọng tạo không gian thể chế để TPHCM chuyển từ tư duy “đô thị lớn” sang “siêu đô thị toàn cầu”; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ tăng trưởng dựa vào đất đai và lao động giá rẻ sang tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và chất lượng sống.
Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh TPHCM xây dựng quy hoạch giai đoạn 2025-2050, với tầm nhìn 100 năm. Chuyên gia cho rằng quy hoạch chính là thiết kế quỹ đạo phát triển của thành phố, xác lập cấu trúc kinh tế, mạng lưới hạ tầng, các cực tăng trưởng và dòng lưu chuyển của con người, hàng hóa, tri thức và vốn trong nhiều thập kỷ tới.
“Tầm nhìn 100 năm đòi hỏi chúng ta phải vượt ra khỏi tư duy nhiệm kỳ và chu kỳ thị trường ngắn hạn. Những quyết định được đưa ra hôm nay sẽ định hình diện mạo TPHCM của nhiều thế hệ mai sau”, ông nói.
Siêu đô thị phải được đo bằng thực lực
Từ đó, chủ đề “Siêu đô thị, Siêu cơ hội” đặt câu hỏi TPHCM mới đã hội tụ đủ điều kiện để trở thành một siêu đô thị tầm cỡ châu Á hay mới chỉ là một đô thị có quy mô lớn hơn? Theo GS.TS Nguyễn Đức Thuận, tầm vóc của một siêu đô thị cần được nhìn qua 4 tiêu chí gồm thực lực kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc tế, khả năng kết nối hạ tầng và chất lượng sống của người dân.
“Nếu không gian phát triển vẫn bị chia cắt, hạ tầng thiếu đồng bộ và chất lượng sống không được cải thiện tương xứng, quy mô lớn có thể trở thành áp lực. Ngược lại, khi hạ tầng, nguồn lực và các cực kinh tế được tổ chức thành một hệ sinh thái liên kết, sức mạnh của toàn đô thị sẽ vượt xa tổng giá trị của từng thành phần”, ông nhận định.
Để hiện thực hóa khát vọng này, ông cho rằng TPHCM cần giải quyết 3 bài toán cấu trúc. Thứ nhất là tổ chức không gian đa cực, đa trung tâm. Một siêu đô thị không thể phát triển theo mô hình “một trung tâm - nhiều vùng ven”. Thành phố cần xác định rõ vai trò của từng cực phát triển như trung tâm tài chính, công nghiệp, đổi mới sáng tạo, logistics, cảng biển hay du lịch, đồng thời tạo sự liên kết và cộng hưởng giữa các cực tăng trưởng thay vì cạnh tranh hoặc phát triển phân mảnh.
Thứ hai là phát triển đô thị dựa trên hạ tầng. Metro, đường vành đai, cao tốc, cảng biển, sân bay được ông ví như “hệ tuần hoàn” của siêu đô thị.
Tuy nhiên, xây dựng hạ tầng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là tổ chức không gian đô thị xoay quanh hạ tầng, phát triển theo mô hình TOD để mỗi nhà ga, mỗi đầu mối giao thông trở thành trung tâm tích hợp nhà ở, thương mại, dịch vụ, việc làm và không gian công cộng.
“Nói cách khác, hạ tầng không chỉ phục vụ đô thị; hạ tầng kiến tạo nên đô thị”, ông nhấn mạnh.
Thứ ba là quản trị thông minh và thích ứng bền vững. Một siêu đô thị phải có năng lực chống chịu trước biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và những biến động toàn cầu. Vì vậy, quản trị đô thị cần chuyển từ tư duy “ứng phó” sang “thích ứng”, từ giải quyết vấn đề sau khi phát sinh sang dự báo, điều phối và tự điều chỉnh bằng dữ liệu, công nghệ và quản trị hiện đại.
Siêu cơ hội không đồng nghĩa với những cơn sốt đất
GS.TS Nguyễn Đức Thuận cho rằng khi những điều kiện trên được hiện thực hóa, cấu trúc đô thị sẽ thay đổi và kéo theo sự thay đổi của cấu trúc kinh tế. Những tuyến metro có thể mở ra các trung tâm thương mại mới; vành đai và cao tốc tạo nên các hành lang công nghiệp - logistics mới; các cực đổi mới sáng tạo hình thành những thị trường lao động và hệ sinh thái doanh nghiệp mới.
“Đó chính là nguồn gốc của ‘siêu cơ hội’”, ông nói. Tuy nhiên, ông lưu ý siêu cơ hội không phải những cơn sốt đất hay chu kỳ đầu cơ ngắn hạn. Cơ hội bền vững đến với những chủ thể có khả năng đọc quy hoạch như đọc bản đồ của dòng vốn, tri thức, hạ tầng và giá trị kinh tế tương lai.
Một quy hoạch có tầm nhìn 100 năm không thể được tiếp cận bằng tư duy của một chu kỳ bất động sản. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực đọc quy hoạch, hiểu mối quan hệ giữa hạ tầng, dân cư, việc làm và các cực kinh tế; đồng thời chuẩn bị năng lực tài chính, quản trị và phát triển dự án đủ dài hạn để đồng hành cùng quá trình kiến tạo đô thị.
“Siêu đô thị có thể tạo ra siêu cơ hội, nhưng cơ hội sẽ không chia đều cho tất cả. Cơ hội sẽ thuộc về những doanh nghiệp nhìn thấy sự dịch chuyển trước khi nó trở thành xu hướng; những nhà đầu tư nhận ra giá trị trước khi thị trường gọi tên giá trị đó”, GS.TS Nguyễn Đức Thuận nói.
Siêu cơ hội phải đi cùng siêu năng lực
Cũng tại diễn đàn, GS.TS Trần Đình Thiên cho rằng cụm từ “siêu cơ hội” luôn đi cùng “siêu thách thức”. Theo ông, những người có năng lực thường nhìn thấy trong cơ hội một thách thức đối với chính mình. Ông đặt vấn đề về việc TPHCM và cộng đồng doanh nghiệp cần chuẩn bị năng lực như thế nào để chuyển hóa những cơ hội lớn thành lợi ích phát triển thực sự?
Bài học lớn của Việt Nam trong thời gian qua là làm sao chuyển hóa những cơ hội mà đất nước tạo ra thành lợi ích phát triển cho thị trường và doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, với ông, vấn đề cốt lõi là việc chuẩn bị năng lực để chuyển hóa những cơ hội khác thường thành động lực phát triển cho TPHCM và doanh nghiệp Việt Nam.
GS.TS Trần Đình Thiên cho rằng câu chuyện siêu đô thị cần được nhìn ở cả hai chiều dài hạn và ngắn hạn. Ở tầm dài hạn, ông đặc biệt lưu ý đến Luật Đô thị đặc biệt và quy hoạch điều chỉnh TPHCM. Luật Đô thị đặc biệt không phải gói chính sách hay nguồn lực tài chính dành cho thành phố, mà quan trọng hơn là tạo ra một hệ sinh thái phát triển mới, khung khổ thể chế để các đô thị đặc biệt có nhiều quyền chủ động, sáng tạo hơn.
Ông ví Luật Đô thị đặc biệt và quy hoạch điều chỉnh TPHCM như hai “tuyến mở” cho tương lai thành phố. Nếu quy hoạch mở rộng không gian và định hình không gian phát triển mới, thì luật tạo ra cách tiếp cận về quyền chủ động tương xứng với không gian và yêu cầu phát triển đó. Doanh nghiệp muốn nhận diện đúng cơ hội, thời cơ và năng lực cần có phải nhìn hai yếu tố này trong một tổng thể kết hợp.
Về ngắn hạn, GS.TS Trần Đình Thiên cho rằng áp lực tăng trưởng 10% trở lên đang tạo sức ép lớn đối với từng người, từng doanh nghiệp và đặc biệt là lực lượng doanh nghiệp.
Mục tiêu tăng trưởng cao là câu chuyện có tính trường kỳ, nhưng việc đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn vẫn tạo ra những áp lực cụ thể cần được giải quyết. Bên cạnh đó, ông đặt vấn đề về thực lực của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mục tiêu phát triển được đặt ở mức cao. Nếu thực lực doanh nghiệp còn yếu và môi trường kinh doanh còn nhiều điểm nghẽn, việc hoàn thành các mục tiêu sẽ không dễ dàng.
Theo GS.TS Trần Đình Thiên, việc mở rộng cơ hội thông qua Luật Đô thị đặc biệt đồng thời đòi hỏi nỗ lực rất lớn từ chính quyền thành phố. Quyền chủ động và quyền sáng tạo chỉ có thể phát huy khi đi cùng năng lực thực thi, năng lực của bộ máy và sự đồng thuận của người dân. Quá trình hình thành một cấu trúc quyền lực mới không thể diễn ra ngay lập tức, bởi quyền luôn gắn với cơ chế thực thi và những lợi ích liên quan.
Từ đó, doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu quá trình triển khai để có thể phối hợp với chính quyền thành phố, qua đó tạo ra sự đồng hành giữa chính quyền và doanh nghiệp.
Đối với quy hoạch điều chỉnh TPHCM, chuyên gia cho biết ông cùng một số chuyên gia từng có dịp thảo luận với UBND thành phố về nội dung này. Quy hoạch có quy mô lớn, xử lý một hệ thống dữ liệu lớn trong thời gian ngắn nhưng tạo ra kỳ vọng về tương lai của TPHCM. Ông đánh giá quy hoạch đã mở ra nhiều khả năng để thành phố hướng tới một tầm vóc lớn hơn, nếu được triển khai phù hợp.
GS.TS Trần Đình Thiên chia sẻ tham luận tại sự kiện - Ảnh: TM
|
GS.TS Trần Đình Thiên đề cập về việc định hình 3 trung tâm chức năng lớn của không gian TPHCM mới. Trong đó, TPHCM được định hướng là trung tâm dịch vụ cấp vùng và quốc tế, với trung tâm tài chính quốc tế và trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghệ cao. Bình Dương là trung tâm công nghiệp công nghệ cao gắn với đổi mới sáng tạo. Bà Rịa - Vũng Tàu gắn với khu thương mại tự do, cảng quốc tế, logistics, hàng hải và du lịch. Điểm quan trọng là tính kết nối giữa 3 trung tâm này. Khi được kết nối, sức mạnh của tổ hợp có thể tạo ra một không gian phát triển lớn hơn thay vì chỉ cộng cơ học các lợi thế riêng lẻ.
Tuy nhiên, ông cho rằng bên cạnh những điểm tích cực, vẫn có một số vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Trước hết là hạ tầng, TPHCM vẫn đang đối mặt với những vấn đề về hạ tầng và cần đặt đúng mức độ nghiêm trọng của bài toán này trong quá trình phát triển siêu đô thị.
Vấn đề thứ hai là lực lượng doanh nghiệp tại TPHCM lớn, nhưng cần nhìn sâu hơn vào cấu trúc của lực lượng này, đặc biệt là mạng lưới và chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp. “Nếu thực trạng chuỗi sản phẩm, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam không được hình thành đầy đủ thì chúng ta rất khó tạo ra sức mạnh”, ông nói.
Từ đó, ông đặt ra yêu cầu TPHCM cần góp phần hình thành một cấu trúc lực lượng doanh nghiệp Việt Nam đủ sức phát triển, không chỉ tại thành phố mà còn cho cả nước, trong đó cần có những trụ cột gắn với các sản phẩm của Việt Nam.
Chuyển sang công nghệ cao sẽ đòi hỏi thêm nguồn vốn
Một vấn đề khác được GS.TS Trần Đình Thiên lưu ý là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Việc TPHCM đặt mục tiêu chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn sang dựa nhiều hơn vào công nghệ cao và tri thức là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này lại đặt ra một bài toán lớn về vốn.
“Công nghệ cao cần rất nhiều vốn, thậm chí còn nhiều vốn hơn cả trước đây, ít nhất trong 10 năm đầu tiên”, ông nói.
Do đó, doanh nghiệp sẽ phải tìm cách tiếp cận nguồn vốn để chuyển mình sang một cấu trúc phát triển mới. Theo ông, dù có quan điểm cho rằng nền kinh tế đang “thừa tiền”, doanh nghiệp vẫn có thể gặp tình trạng thiếu vốn. Trong quá trình thay đổi các cấu trúc phát triển, nhu cầu vốn sẽ còn lớn hơn.
Từ đó, GS.TS Trần Đình Thiên cho rằng bài toán đặt ra không chỉ là quản trị hay công nghệ, mà còn là khả năng huy động và sử dụng vốn để doanh nghiệp có thể thay đổi chính mình.
Ông nhấn mạnh, nếu lực lượng doanh nghiệp có thể tạo thành một tổ hợp đủ mạnh về quy mô, liên kết và năng lực, sức mạnh đó sẽ không chỉ phục vụ sự phát triển kinh tế của TPHCM mà còn đóng góp cho cả nền kinh tế Việt Nam. “Nếu làm được như vậy thì bài toán ‘Siêu đô thị, Siêu cơ hội’ sẽ thành ‘siêu năng lực’, và nhờ đó sẽ vượt qua được ‘siêu thách thức’”, GS.TS Trần Đình Thiên nói.
Thu Minh










