So găng công ty chứng khoán ngân hàng và công ty chứng khoán độc lập
Cuộc đua ở nhóm công ty chứng khoán (CTCK) ngày càng khốc liệt hơn, nhất là khi có một thế lực vốn dày và chuyên nghiệp tham gia vào. Vị thế của nhóm CTCK độc lập đang dần lung lay khi đối thủ tiến lên.
Cuộc đua ở ngành chứng khoán
Những năm 2018-2022, làn sóng CTCK mạnh mẽ gia nhập thị trường Việt Nam. Khối CTCK ngoại trở thành đối trọng của các công ty nội. Sức cạnh tranh khốc liệt đặc biệt ở các đợt tăng vốn. Vốn dày cộng với giá vốn rẻ giúp nhóm này có một vũ khí cạnh tranh cực kỳ lợi hại - cho vay margin lãi suất thấp. Ngoài ra, một số công ty tạo thêm lợi thế bằng cách miễn, giảm phí.
Thị trường tạo đỉnh năm 2022 đã đẩy môi trường kinh doanh của nhóm CTCK vào tình trạng khác. Cộng hưởng với diễn biến thắt chặt tiền tệ trên toàn cầu. Tiền không còn rẻ nữa. Các CTCK ngoại bắt đầu tạm dừng cuộc đua. Tuy nhiên, sân chơi không bớt phần cạnh tranh khi một nhóm tay chơi mới bắt đầu nhập cuộc. Ngân hàng mạnh tay thâu tóm các CTCK và thực hiện tái cấu trúc với loạt thương vụ mua lại giấy phép như Chứng khoán Kafi, Chứng khoán VPBankS, Chứng khoán OCBS… Đồng thời, các CTCK thuộc hệ sinh thái ngân hàng như Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS), Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), Chứng khoán LPS bắt đầu bung sức. Nguồn lực mạnh từ các ngân hàng trở thành động cơ giúp các công ty tiến bước thần tốc.
Vốn điều lệ của nhóm CTCK có ngân hàng đứng sau tăng mạnh. Minh chứng là TCBS, VPBankS nhanh chóng tăng vốn vượt ngưỡng 20 ngàn tỷ đồng.
Ở đường đua này, các công ty độc lập cũng bám đuổi sát sao. Sau nhiều đợt tăng vốn, Chứng khoán SSI vẫn duy trì vị trí đứng đầu về vốn điều lệ. Với đợt thưởng cổ phiếu gần nhất, SSI đã nâng vốn điều lệ lên hơn 30 ngàn tỷ đồng, tạm thời vượt qua mức vốn hơn 27 ngàn tỷ đồng của TCBS.
|
Vốn điều lệ của các nhóm CTCK
Đvt: Tỷ đồng
Nguồn: VietstockFinance
|
Thống kê cho thấy, tổng vốn điều lệ của nhóm CTCK ngân hàng vẫn đang thấp hơn nhóm CTCK độc lập (136 ngàn tỷ đồng so với 165 ngàn tỷ đồng); nhưng nếu so với tốc độ tăng thì CTCK ngân hàng những năm gần đây hoàn toàn nổi trội. Giai đoạn 5 năm gần đây, vốn điều lệ của nhóm độc lập đạt mức tăng 38%/năm, thấp hơn mức 65%/năm của các công ty thuộc nhóm ngân hàng; trong khi nhóm CTCK ngoại gần như đứng ngoài cuộc đua tăng vốn.
So về lợi nhuận, tới quý 2/2026, CTCK ngân hàng đã vươn lên dẫn đầu với tổng lợi nhuận sau thuế đạt mức 6.3 ngàn tỷ đồng, cao hơn 17.5% so với nhóm CTCK độc lập.
|
Lợi nhuận sau thuế của các nhóm CTCK
Đvt: Tỷ đồng
Nguồn: VietstockFinance
|
Vì sao ngân hàng lấn sang sân chơi chứng khoán
Việc các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục rót vốn, thâu tóm hoặc mở rộng quy mô các CTCK trực thuộc xuất phát từ những động lực chiến lược để tăng trưởng.
Động lực đầu tiên là tối ưu hóa hệ sinh thái tài chính theo định hướng “One-stop Banking”. Ngân hàng muốn giữ chân dòng tiền của khách hàng trong cùng một hệ sinh thái. Khách hàng có thể gửi tiết kiệm, vay vốn, đầu tư cổ phiếu, trái phiếu và mua chứng chỉ quỹ trên cùng một nền tảng mà không bị rò rỉ dòng tiền sang tổ chức khác.
Bên cạnh đó, đây cũng là chiến lược gia tăng thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng. Biên lãi thuần (NIM) của mảng cho vay ngân hàng truyền thống đang chịu áp lực thu hẹp. Việc sở hữu CTCK giúp ngân hàng đa dạng hóa nguồn thu thông qua phí môi giới, phí tư vấn phát hành (IB), phí quản lý tài sản và đặc biệt là lãi cho vay margin. Ngân hàng có lợi thế thanh khoản và khả năng huy động vốn chi phí thấp, sau đó có thể tài trợ nguồn vốn này cho CTCK để đẩy mạnh hoạt động cho vay margin với biên lợi nhuận hấp dẫn.
Tới cuối quý 1/2026, dư nợ cho vay ở nhóm CTCK ngân hàng đã vượt qua nhóm CTCK độc lập; đà tăng thậm chí tiếp tục mở rộng sang quý 2. Dư nợ của CTCK ngân hàng cuối quý 2 đạt hơn 205 ngàn tỷ đồng, trong khi nhóm CTCK độc lập là hơn 181 ngàn tỷ đồng.
|
Dư nợ cho vay của các nhóm CTCK
Đvt: Tỷ đồng
Nguồn: VietstockFinance
|
Mặt khác, CTCK là mảnh ghép pháp lý quan trọng giúp ngân hàng tham gia sâu vào thị trường vốn (phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tư vấn M&A, niêm yết cổ phiếu) - mảng kinh doanh mang lại lợi nhuận rất lớn.
So sánh với CTCK độc lập, các CTCK thuộc ngân hàng được ngân hàng mẹ hỗ trợ thanh khoản, chi phí vốn đầu vào thấp, dễ tăng vốn điều lệ nhanh. Ngoài ra còn khả năng khai thác trực tiếp từ hàng triệu khách hàng sẵn có của ngân hàng mẹ qua ứng dụng e-banking.
Tuy nhiên, quy trình quản trị rủi ro chặt chẽ theo chuẩn ngân hàng hoặc phải đi theo định hướng từ ngân hàng mẹ dẫn tới khả năng chuyển dịch theo tình hình thị trường hay điều chỉnh hoạt động kinh doanh đôi khi kém linh hoạt.
Ở phía đối trọng, CTCK độc lập có chi phí huy động vốn (vay ngân hàng/trái phiếu) cao hơn, quy mô vốn tăng chậm hơn. Nhóm này phải tự phát triển tệp khách hàng, phụ thuộc vào thương hiệu, chiến lược marketing và lực lượng môi giới. Trái ngược với các CTCK thuộc ngân hàng, nhóm CTCK độc lập có ưu thế linh hoạt, chủ động hơn trong chính sách ưu đãi và có mô hình hoạt động thích ứng nhanh với biến động thị trường. Bên cạnh đó là kinh nghiệm, định vị thương hiệu và mạng lưới quan hệ được xây dựng nhiều năm trong ngành chứng khoán.
Với những diễn biến hiện tại, nhóm chứng khoán sẽ phát triển theo hướng tự phân hóa rõ rệt.
Nhóm CTCK ngân hàng sẽ tiếp tục chiếm ưu thế về quy mô vốn, thị phần margin và mảng trái phiếu nhờ chi phí vốn rẻ và tệp khách hàng vượt trội.
Trong khi đó, để tăng khả năng cạnh tranh, nhóm CTCK độc lập bắt buộc phải chuyển đổi số mạnh mẽ, nâng cao chất lượng tư vấn, phát triển mảng khách hàng tổ chức và sản phẩm tài chính cấu trúc phức tạp để giữ thị phần. Cuộc đua sẽ khốc liệt, nhưng cũng là cơ hội để ngành chứng khoán chuyển mình.
Chí Kiên










