Thách thức vĩ mô dưới góc nhìn chuyên gia
3 năm nay, nợ công Việt Nam bằng 7-8 năm trước cộng lại. Thêm vào đó là chi phí vay cao và thời hạn ngắn. Khủng hoảng nợ công ở châu Âu cũng do những yếu tố này mà ra.
Những tín hiệu tích cực từ chính sách thắt chặt tiền tệ mới chỉ là bước đầu và không thể làm mờ đi các thách thức của nền kinh tế cả ngắn hạn và dài hạn. Theo các chuyên gia kinh tế và nhà quản lý, vẫn còn đó những thách thức về tiền tệ, tài chính và quan trọng nhất là thách thức lòng tin.
Thách thức tiền tệ, lạm phát
Không phải bàn cãi về một số tín hiệu tích cực mà chính sách tiền tệ đã đạt được trong thời gian qua, như ổn định thị trường ngoại tệ, quản lý thị trường vàng, tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất đến thời điểm này đã giảm về mức gần 17%… Nhưng Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng nêu ra 4 thách thức nổi lên từ nay đến cuối năm. Thứ nhất là lãi suất huy động và cho vay bằng tiền đồng vẫn cao, trong khi các ngân hàng cạnh tranh huy động không lành mạnh. Thứ 2, thanh khoản của các ngân hàng thương mại vẫn khó khăn do huy động vốn tăng chậm hơn tín dụng. Thứ 3, tỉ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng. Thứ 4, thị trường ngoại hối và tỉ giá còn tiềm ẩn rủi ro, do nhập siêu có xu hướng tăng.
Có thể thấy rõ đây là những thách thức vừa mang tính ngắn hạn, vừa mang tính dài hạn. Thời gian qua, nền kinh tế đã chứng kiến những nỗ lực của Nhà nước trong việc thực thi chính sách tiền tệ bằng các công cụ tỉ giá, lãi suất. Song bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, hiệu quả thực thi các công cụ này sẽ bị hạn chế nếu mục tiêu vĩ mô là ngắn hạn và không nhất quán. Thực tế cho thấy, sau giai đoạn 2008-2009, mục tiêu thay đổi liên tục, từ chống lạm phát, chống suy giảm kinh tế rồi đến chính sách tiền tệ lúc nới lỏng lúc thắt chặt. Do vậy, hiệu quả không cao và để lại hậu quả cho năm 2011 là lạm phát rất cao và thị trường tiền tệ bất ổn.
Trong khi đó, lãi suất không chỉ cao mà còn bị méo mó. Bởi lãi suất được ấn định bằng các quyết định hành chính, còn thị trường lại không theo mức ấn định đó. Vốn ngân hàng đang trong tình trạng 2 giá, méo mó và khó kiểm soát. Trong khi đó, lại chưa có một đường cong lãi suất chuẩn. Bà Thanh cho rằng, việc ấn định lãi suất như vậy dù mang tính hành chính nhưng vẫn hợp lý trong bối cảnh hiện nay vì nếu nới lỏng, lãi suất lập tức sẽ tăng rất mạnh, gây khó cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bà cũng thừa nhận, tình trạng 2 giá vẫn là điều cần loại bỏ trong kinh tế thị trường.
Trong khi đó, khoảng trống không còn nhiều cho mục tiêu lạm phát 15% cho cả năm nay, khi mới sau 6 tháng đã là trên 13%. Mức lạm phát tháng 6.2011 tăng khoảng 1%, thấp nhất từ đầu năm. Nhưng theo ông Đỗ Ngọc Huỳnh, Vụ Kinh tế Tổng hợp, Văn phòng Chính phủ, con số 1% ấy vẫn rất lớn.
Một số tổ chức quốc tế trước đây từng đưa ra mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng ở Việt Nam. Theo đó, lạm phát ở mức khoảng 9% thì đảm bảo hiệu quả tăng trưởng. Tuy nhiên, theo một chuyên gia kinh tế, mức này vẫn cao. Kinh tế tăng trưởng hiệu quả hơn khi lạm phát chỉ ở mức khoảng 5%.
Bên cạnh những thách thức về tiền tệ còn có thách thức về tài chính công. Nhóm sử dụng vốn chưa hiệu quả lại là khu vực nhà nước. Nếu là vốn vay từ nước ngoài thì nợ công rất nguy hiểm. Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cảnh báo, nợ công đang tăng nhanh. Ba năm nay, nợ công bằng 7-8 năm trước đó cộng lại. Trong khi đó, chi phí vay ngày càng lớn, thời hạn vay ngày càng ngắn. Các nước châu Âu lâm vào khủng hoảng nợ công cũng do các khoản vay kỳ hạn ngắn và lãi suất cao như vậy.
Theo ông Nghĩa, khu vực tích tụ nợ xấu nhiều, đáng ngại thay, lại là doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế. Các khoản nợ này tạo ra nợ xấu cho ngân hàng và nền kinh tế. “Bất ổn vĩ mô những tháng tới và năm tới còn lớn, mà nguy cơ lớn nhất là hoạt động của các công ty nhà nước tích tụ nợ xấu. Trong khi chúng ta chưa có cơ chế để kiểm soát sự minh bạch, sự hiệu quả của khu vực này”, ông Nghĩa lo ngại.
Thách thức lòng tin
Chính những bất ổn vĩ mô gần đây đã khiến không ít tổ chức quốc tế hạ thấp mức tín nhiệm tài chính của Việt Nam. Có thể thấy được điều đó khi nhìn vào chỉ số hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cụ thể, chỉ số này tăng trở lại từ cuối tháng 5, dù trước đó đã giảm.
Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng đây là biểu hiện của việc lòng tin đang giảm sút, một thách thức đáng lo ngại. Theo ông, việc người dân chuyển từ ngoại tệ sang tiền đồng là điều đáng mừng trong kiểm soát thị trường ngoại tệ. Nhưng phân tích kỹ hơn sẽ thấy lượng tiền đồng ấy gửi ở ngân hàng chủ yếu với kỳ hạn ngắn. Rất nhiều người có tiền đang “lướt sóng” với lãi suất; ngân hàng nào lãi suất cao thì đem tiền đến gửi ngắn hạn, rồi lại rút ra gửi chỗ khác nếu lãi suất hấp dẫn hơn. Đó là dấu hiệu cho thấy sẽ có một sự dịch chuyển tài sản sang ngoại tệ, vàng hay tài sản nào đó khác tiền đồng nếu nền kinh tế có biến động và tác động đến tài sản của người dân.
Do vậy, mặc dù thị trường ngoại tệ đã được kiểm soát, tỉ giá đang ổn định, nhưng Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa vẫn lo ngại về tình trạng vàng hóa và đô la hóa nền kinh tế. Ông cho rằng tình trạng vàng hóa và đô la hóa vẫn còn khá nghiêm trọng kể cả trong hệ thống ngân hàng và ngoài ngân hàng, khiến việc tính toán cầu về tiền của Ngân hàng Nhà nước phức tạp và khó chuẩn xác. Người dân và doanh nghiệp có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa nội tệ sang vàng hay ngoại tệ khi có chênh lệch lãi suất hay tỉ giá.
Chính điều này khiến việc điều hành trở nên khó khăn và một chính sách không thể đạt được nhiều mục tiêu. Thông điệp đánh đổi tăng trưởng để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô hiện nay được đánh giá hợp lý. Song để các bên tham gia thị trường không “nhảy sóng”, ông Võ Trí Thành cho rằng, về dài hạn, thông điệp chính sách phải rất rõ ràng. Từ nay trở đi, việc kiểm soát dòng tiền phải chặt chẽ hơn nữa, thâm hụt ngân sách phải dưới 3% và tăng trưởng tín dụng không nên quá 15%. Và để tăng trưởng hiệu quả, ổn định đồng nội tệ, lấy được lòng tin của người dân, thì mức lạm phát phải giảm xuống 5-6%.
Vũ Dũng
nhịp cầu đầu tư









