Tin tức
Thuế Mỹ sẽ ra sao sau 150 ngày?

Thuế Mỹ sẽ ra sao sau 150 ngày?

26/03/2026

Banner PHS

Thuế Mỹ sẽ ra sao sau 150 ngày?

Thuế Mỹ sau 150 ngày có thể tăng lên 20-30% với xác suất cao, hoặc giảm về khoảng 5-6% nếu áp lực lạm phát của Mỹ gia tăng, hoặc điều chỉnh theo từng thỏa thuận, theo các chuyên gia. Dù theo hướng nào, yêu cầu với doanh nghiệp vẫn sẽ khắt khe hơn đáng kể so với hiện nay.

Diễn biến hiện tại bắt đầu từ phán quyết ngày 20/02 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ liên quan đến Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA). Tòa cho rằng Tổng thống không có thẩm quyền áp thuế theo khuôn khổ này, khiến phần lớn cấu trúc thuế năm 2025 mất hiệu lực.

Chính quyền sau đó chuyển sang viện dẫn Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974, áp mức thuế toàn cầu 15% trong 150 ngày, bắt đầu từ 24/02/2026. Cách làm này giúp hệ thống đơn giản hơn, vẫn giữ các miễn trừ quen thuộc như hàng thuộc USMCA, năng lượng, dược phẩm hay bán dẫn, nhưng chỉ mang tính tạm thời.

Tại hội thảo Giải pháp ứng phó chính sách thuế tạm thời 150 ngày của Hoa Kỳ, GS. Trần Ngọc Anh (Đại học Indiana, Mỹ) cho rằng trong giai đoạn tiếp theo, vấn đề không nằm ở mức thuế, mà ở việc Mỹ đang thay đổi công cụ. Các biện pháp khẩn cấp dần được thay bằng những cơ chế có nền tảng pháp lý rõ hơn và đi kèm điều tra.

Chúng ta không còn ở trong thế giới có những quy tắc ổn định như trước. Bây giờ là câu chuyện về sức mạnh đàm phán và các biện pháp có thể thay đổi liên tục”, ông nói.

Theo chuyên gia, sau mốc 150 ngày, khả năng cao Mỹ sẽ chuyển sang các công cụ mạnh hơn. “Sau 150 ngày, khả năng rất cao là Mỹ sẽ chuyển sang áp dụng công cụ trong Điều 301…”, ông nhận định, nhấn mạnh đây là công cụ xử lý các hành vi bị xem là “không công bằng”. "Điểm quan trọng là Điều 301 trao quyền rất lớn cho Tổng thống. Đây gần như là một công cụ mang tính trừng phạt, và với cách tiếp cận của ông Donald Trump, có thể thấy họ sẵn sàng sử dụng mạnh tay, thậm chí linh hoạt về mặt pháp lý để đạt mục tiêu".

Thực tế, Việt Nam đã nằm trong danh sách bị xem xét và đang trong quá trình điều tra. Các cuộc điều tra thường kéo dài vài tháng, và phía Mỹ đang đẩy nhanh tiến độ để có thể công bố kết quả bước đầu vào khoảng cuối tháng 7. Khi đó, việc áp thuế bổ sung theo ngành hoặc thậm chí theo từng doanh nghiệp là khả năng có thể xảy ra.

Mức thuế nếu chuyển sang giai đoạn này sẽ không còn quanh 10% mà có thể tăng lên vài chục phần trăm. Khoảng thời gian 150 ngày vì vậy giống một “khoảng đệm”, tạo điều kiện tạm thời nhưng không bền vững.

GS. Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana, Hoa Kỳ tham gia trực tuyến tại Mỹ - Ảnh: Tử Kính

Dù vậy, chính sách thuế của Mỹ không chỉ phụ thuộc vào yếu tố pháp lý. Áp lực lạm phát đang trở thành biến số quan trọng. Giá dầu có thời điểm vượt 120 USD/thùng, kéo giá xăng tại Mỹ tăng mạnh chỉ trong vài tuần. Điều này khiến bài toán chính trị trở nên nhạy cảm hơn khi nước này tiến gần tới bầu cử giữa kỳ.

Nếu tiếp tục tăng thuế mạnh, chi phí nhập khẩu sẽ tăng và có thể đẩy lạm phát lên thêm 1-2 điểm %, theo một số ước tính. Điều đó đặt chính quyền vào thế phải cân nhắc giữa mục tiêu bảo hộ và rủi ro kinh tế - chính trị. Đây cũng là yếu tố tạo ra dư địa nhất định cho các nước xuất khẩu như Việt Nam.

Từ góc nhìn cấu trúc thương mại, 2 vấn đề lớn nhất với Việt Nam là thặng dư thương mại cao và nghi ngờ về dư thừa công suất. Năm 2025, xuất khẩu sang Mỹ đạt khoảng 178 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm xuất siêu lớn nhất, thậm chí có thời điểm vượt Trung Quốc.

Tuy nhiên, nếu tách sâu hơn sẽ thấy phần lớn chênh lệch đến từ khu vực FDI. Khối này chiếm khoảng 77% kim ngạch xuất khẩu và xuất siêu gần 49.5 tỷ USD, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 23% và lại nhập siêu gần 30 tỷ USD. Dù vậy, khi bị áp thuế hoặc điều tra, toàn bộ hàng hóa từ Việt Nam đều chịu tác động, không phân biệt nguồn gốc.

Ở cấp ngành, rủi ro phân hóa khá rõ. Điện tử và máy tính hiện vẫn được hưởng lợi từ danh mục miễn trừ. Ngược lại, máy móc thiết bị có nguy cơ bị điều tra do liên quan đến công suất. Dệt may được xem là nhóm rủi ro cao, khi có thể bị truy sâu vào chuỗi cung ứng, đặc biệt ở các nhà cung cấp cấp dưới để xác minh yếu tố lao động. Ngành gỗ đang thuận lợi trong ngắn hạn nhưng vẫn cần theo dõi về dài hạn.

Ở chiều ngược lại, cơ hội vẫn tồn tại khi Mỹ gia tăng sức ép lên Trung Quốc, khiến đơn hàng có xu hướng dịch chuyển. Tuy nhiên, lợi thế này không tự đến. Nếu hàng hóa chỉ “đi qua” Việt Nam để né thuế, rủi ro điều tra có thể quay lại chính doanh nghiệp trong nước.

Tại hội thảo, TS. Huỳnh Thế Du, ĐH Wisconsin Oshkosh (Hoa Kỳ) cho rằng rủi ro chính sách không dừng lại ở mốc 150 ngày, đặc biệt với các nền kinh tế xuất khẩu lớn sang Mỹ như Việt Nam. Theo ông, điều khó không nằm ở việc dự báo chính xác kịch bản, mà ở chỗ xu hướng đã khá rõ. Chính sách bảo hộ nhiều khả năng sẽ tiếp diễn, không chỉ trong nhiệm kỳ của ông Donald Trump mà cả khi có sự thay đổi về chính quyền.

Đây không phải câu chuyện 150 ngày, mà là một quá trình bảo hộ thương mại dài hạn”, ông Du nói, đồng thời lưu ý mức thuế khi xuất khẩu sang Mỹ có thể dần trở thành một “bình thường mới” mà doanh nghiệp buộc phải thích nghi.

Các kịch bản nào có thể xảy ra?

Từ các phân tích trên, chuyên gia từ Đại học Indiana cho biết kịch bản sau 150 ngày có thể chia thành 3 hướng. Thứ nhất là leo thang, khi Mỹ sử dụng các công cụ như Mục 301 để áp thuế cao hơn. Nếu đi theo hướng này, thuế mang tính trừng phạt có thể tăng mạnh, lên khoảng 20-30%, cao hơn đáng kể so với mặt bằng hiện nay quanh 10%. Thay vì áp đồng loạt, Mỹ nhiều khả năng đánh theo ngành, thậm chí theo từng doanh nghiệp. “Cá nhân tôi đánh giá khả năng này trên 50%”, ông Ngọc Anh nói. 

Các lĩnh vực rủi ro cao là những ngành mang tính cạnh tranh trực tiếp hoặc bị nghi ngờ liên quan đến chuỗi cung ứng bên ngoài, như thép, xe điện, linh kiện. Với các ngành này, phía Mỹ có thể lập luận rằng hàng hóa thực chất sử dụng đầu vào từ Trung Quốc - nơi đang bị cho là dư thừa công suất - sau đó gia công tại Việt Nam rồi xuất sang Mỹ.

Kịch bản thứ hai là hạ nhiệt, trong trường hợp áp lực lạm phát tại Mỹ tăng cao buộc chính quyền phải điều chỉnh. Giá dầu tăng, chi phí năng lượng leo thang và tác động từ chiến sự có thể khiến lạm phát trở thành rủi ro lớn hơn so với mục tiêu bảo hộ.

Nếu điều này xảy ra, Mỹ có thể quay về mức thuế gần với quy chế tối huệ quốc (MFN), tức khoảng 5-6% trung bình, thay vì duy trì mức thuế cao hiện tại.

Theo ông Ngọc Anh, kịch bản này phụ thuộc vào nhiều biến số như diễn biến chiến sự, xu hướng giá dầu, cũng như yếu tố pháp lý trong nước Mỹ. Trong trường hợp tòa án hoặc Quốc hội siết lại quyền áp thuế của nhánh hành pháp, khả năng điều chỉnh chính sách là có thể xảy ra.

Kịch bản thứ ba là đạt được thỏa thuận thương mại song phương, hướng đi mà Việt Nam được cho là cần dành nhiều sự chú ý. Trong kịch bản này, hai bên sẽ đàm phán trực tiếp theo nguyên tắc “có qua có lại”. Việt Nam có thể phải nhượng bộ ở một số lĩnh vực như mở rộng thị trường cho hàng Mỹ, từ nông sản đến ô tô, công nhận các tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tham gia các hợp đồng lớn.

Đổi lại, Mỹ có thể đưa một số mặt hàng của Việt Nam vào diện ưu đãi thuế, hạn chế các cuộc điều tra hoặc nới điều kiện tiếp cận thị trường. “Tóm lại, đây là kịch bản mang tính đàm phán và trao đổi lợi ích, và nếu làm tốt thì có thể giúp Việt Nam giảm đáng kể rủi ro so với kịch bản leo thang”, ông nói.

Doanh nghiệp ứng phó thế nào?

Về mặt ứng phó, chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cần tận dụng ngay “khoảng đệm” hiện tại để rà soát và chuẩn bị, thay vì chờ chính sách rõ ràng.

Với cơ chế theo Điều 122, vẫn còn khoảng 1,600 dòng thuế được miễn trừ, nên việc đầu tiên là kiểm tra sản phẩm có thuộc diện này hay không. Một số trường hợp cũng có thể tận dụng hoàn thuế, như hàng xuất sang Mỹ rồi tái xuất sang Canada hoặc Mexico. Ngoài ra, hàng đưa vào các khu thương mại tự do tại Mỹ chưa bị đánh thuế ngay, và nếu chứng minh được đã xuất trước ngày 24/02 nhưng cập cảng sau đó, doanh nghiệp có thể làm thủ tục hoàn thuế.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp vào các phiên điều trần trong quá trình điều tra, phối hợp với đơn vị tư vấn tại Mỹ để chuẩn bị hồ sơ và lập luận về chuỗi cung ứng. “Nếu không chuẩn bị kỹ, chỉ một sai sót nhỏ trong chuỗi cung ứng cũng có thể khiến toàn bộ lô hàng bị cấm vào thị trường Mỹ”, ông lưu ý.

Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ rất chi tiết, từ nguyên liệu đầu vào đến dữ liệu sản xuất. Bối cảnh Việt Nam đã nằm trong nhóm bị theo dõi, yêu cầu minh bạch sẽ ngày càng khắt khe hơn.

Hội thảo diễn ra với sự góp mặt của nhiều đại diện sở, ban, ngành liên quan - Ảnh: Tử Kính

Theo G.S Trần Ngọc Anh, có thể hình dung 3 mốc thời gian chính. Từ nay đến đầu tháng 4 là giai đoạn rà soát nhanh điều kiện miễn trừ và hoàn thuế. Từ tháng 4 đến tháng 6 là thời điểm then chốt để tham gia điều trần và làm việc với phía Mỹ. Từ tháng 7 trở đi, khi chính sách có thể thay đổi, doanh nghiệp cần sẵn sàng các kịch bản kinh doanh, từ giá bán, hợp đồng đến thị trường.

Trong khi đó, TS. Huỳnh Thế Du cho rằng nhiều bên đang hiểu sai về giai đoạn 150 ngày. “150 ngày không phải vùng an toàn, mà là khoảng thời gian để chuẩn bị cho những thay đổi phía trước”, ông nói. 

Trong giai đoạn này, bài toán đặt ra là vừa giữ được đơn hàng, dòng tiền trước mắt, vừa siết lại các yêu cầu tuân thủ để tránh rủi ro về sau, nhất là với những yếu tố liên quan đến xuất xứ. Nếu lệch về một phía, áp lực có thể dồn lại ở giai đoạn sau.

Ở tầm chính sách, vai trò điều phối của Nhà nước trở nên quan trọng khi doanh nghiệp khó tự xoay xở trong môi trường nhiều biến động. Cách tiếp cận phù hợp là tránh đối đầu trực diện, đưa các vấn đề về đúng bản chất kỹ thuật - tức mọi nghi ngờ từ phía Mỹ đều cần được xử lý bằng dữ liệu và hồ sơ cụ thể.

"Một điều Việt Nam cần tránh là trở thành “mục tiêu đơn lẻ”. Tức là không để mình trở thành điểm nóng mà Tổng thống Mỹ nhắm trực tiếp vào", chuyên gia nhấn mạnh, "Trong điều kiện bất lợi, nếu bị nêu tên riêng lẻ thì việc đàm phán sẽ cực kỳ khó khăn".

Ở góc nhìn dài hơn, các chuyên gia cho rằng môi trường thương mại đang thay đổi nhanh, nên doanh nghiệp không nên đặt cược vào một kịch bản cụ thể. Thay vào đó, cần đa dạng hóa thị trường, tận dụng các FTA và nâng tỷ lệ nội địa hóa, bởi nếu chỉ gia công từ nguyên liệu nhập khẩu, càng xuất nhiều càng dễ đối mặt với điều tra và áp thuế. 

Thực tế tại hội thảo cho thấy doanh nghiệp đã bắt đầu cảm nhận rõ áp lực này. Một số ý kiến cho biết việc chia sẻ chi phí thuế với đối tác đang trở thành vấn đề phải đàm phán lại. Trong khi đó, cạnh tranh từ hàng giá rẻ, đặc biệt là hàng có nguồn gốc từ nước khác nhưng đi qua Việt Nam, cũng khiến rủi ro thị trường phức tạp hơn.

Về phía cơ quan quản lý, đại diện Sở Công Thương TPHCM cho biết các đơn vị đang liên tục cập nhật thông tin, phối hợp với hiệp hội và doanh nghiệp để xử lý các vướng mắc liên quan đến thuế và xuất xứ. Các kênh hỗ trợ cũng được thiết lập để doanh nghiệp có thể phản ánh và nhận hướng dẫn kịp thời.

Một số đề xuất từ doanh nghiệp cũng được đưa ra, như rút ngắn quy trình cấp C/O, tăng liên thông dữ liệu giữa hải quan và cơ quan cấp phép, hoặc ứng dụng công nghệ để giảm thời gian xử lý hồ sơ. Những đề xuất này cho thấy nhu cầu không chỉ nằm ở chính sách mà còn ở cách thực thi để doanh nghiệp có thể thích ứng nhanh hơn.

Tử Kính

FILI - 09:05:40 26/03/2026

Banner PHS
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng