Tiền lương làm thêm giờ: Những quy định doanh nghiệp và người lao động cần nắm rõ
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu cần người lao động làm thêm giờ là phổ biến nhằm bảo đảm tiến độ sản xuất, đáp ứng đơn hàng hoặc xử lý các yêu cầu phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng lao động làm thêm giờ không đơn thuần là biện pháp quản lý nhân sự, mà còn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật lao động, đặc biệt liên quan trực tiếp đến chế độ tiền lương làm thêm giờ của người lao động.
Khái niệm thời gian làm thêm giờ
Theo Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
Thời giờ làm việc bình thường được quy định tại Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 với giới hạn không quá 8 giờ trong 1 ngày và không quá 48 giờ trong 1 tuần. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức làm việc theo tuần thì thời gian làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 1 ngày, đồng thời vẫn phải bảo đảm tổng số giờ làm việc trong 1 tuần không quá 48 giờ.
Như vậy, việc xác định đúng thời giờ làm việc bình thường là điều kiện tiên quyết để xác định chính xác thời điểm phát sinh làm thêm giờ và nghĩa vụ trả tiền lương làm thêm.
Điều kiện sử dụng người lao động làm thêm giờ
Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- Phải được sự đồng ý của người lao động;
- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 40 giờ trong 1 tháng;
- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ trường hợp tại Khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo đó, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 1 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
- Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
- Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
- Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
- Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;
- Trường hợp khác do Chính phủ quy định.
Quy định này thể hiện pháp luật cho phép linh hoạt trong sản xuất nhưng vẫn đặt ra giới hạn kiểm soát rõ ràng về thời gian làm thêm giờ.
Cách tính tiền lương làm thêm giờ
Việc tính tiền lương làm thêm giờ được thực hiện trên cơ sở tiền lương theo giờ làm việc bình thường. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
- Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
- Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
- Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Điều này được hướng dẫn tại Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, cụ thể công thức tính tiền lương làm thêm giờ như sau:
Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy định theo Điều 105 của Bộ luật Lao động và được tính theo công thức sau:
Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm theo định mức lao động theo thỏa thuận với người sử dụng lao động và được tính theo công thức sau:
Qua đó, Nghị định 145/2020/NĐ-CP góp phần cụ thể hóa phương pháp tính nhằm hạn chế tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các doanh nghiệp.
Nguyên tắc trả lương và giới hạn số giờ làm thêm
Theo Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về nguyên tắc trả lương thì người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.
Nhằm đảm bảo nhu cầu công việc cũng như sức khỏe cho người lao động, tại Điều 60 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về giới hạn số giờ làm thêm như sau:
Tổng số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày khi làm thêm vào ngày làm việc bình thường. Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày. Trường hợp làm việc không trọn thời gian quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày. Tổng số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày, khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.
Qua đó, chế độ tiền lương làm thêm giờ không chỉ là quy định mang tính tài chính mà còn là công cụ điều tiết quan hệ lao động, vừa bảo đảm lợi ích của người lao động vừa định hướng doanh nghiệp sử dụng thời gian lao động phù hợp. Việc hiểu đúng các quy định về tiền lương làm thêm giờ giúp doanh nghiệp tổ chức lao động phù hợp với quy định pháp luật. Đồng thời giúp người lao động có thể tính toán tiền lương làm thêm của mình, đảm bảo minh bạch và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.
ThS. LS. Huỳnh Thị Mỹ Hằng









