Trung Đông xuất khẩu dầu thô nhiều hơn trước chiến tranh, sao giá xăng dầu thế giới vẫn cao vút?
Giá dầu Brent chạm 110 USD mỗi thùng dù dầu thô xuất khẩu từ Trung Đông đã ngang bằng, thậm chí vượt mức trước chiến sự. Lý do là tàu phải đi đường vòng làm cước vận tải đắt đỏ, còn dầu thành phẩm bị thiếu hụt vì không thể bơm qua được các đường ống vòng tránh. Kho dự trữ cạn dần giữa các đợt giao tranh càng đẩy giá lên cao.
Ảnh minh họa bởi AI.
|
Truyền thông thường nhắc đi nhắc lại con số 20 triệu thùng dầu qua eo biển Hormuz mỗi ngày, khiến nhiều người lầm tưởng toàn bộ là dầu thô. Tuy nhiên, báo cáo điểm nghẽn hàng hải ngày 03/3/2026 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) chỉ rõ lưu lượng qua Hormuz nửa đầu năm 2025 đạt 20.9 triệu thùng/ngày, nhưng dầu thô và khí ngưng tụ (condensate) chỉ chiếm 14.7 triệu, còn 6.1 triệu là sản phẩm lọc dầu.
Để đo chính xác nguồn cung trước ngày chiến tranh bùng phát (28/02/2026), cần cộng cả lượng dầu thô qua eo biển Hormuz lẫn lượng bơm qua đường ống vòng tránh trên bộ của Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Trong 12 tháng trước chiến sự, tổng dầu thô xuất khẩu toàn vùng Vịnh đạt bình quân 16.5 triệu thùng mỗi ngày nếu trừ Iran, hoặc 18-18.2 triệu thùng nếu gộp Iran.
So với mức nền vừa nêu, lượng dầu thô vật chất rời Trung Đông hiện đã phục hồi trọn vẹn, thậm chí cao hơn. Hãng dữ liệu hàng hải Kpler ghi nhận xuất khẩu dầu thô vùng Vịnh trừ Iran từ ngày 01/09 đến 28/09/2026 đạt 16.5 triệu thùng mỗi ngày, rồi chạm 18.3 triệu thùng vào ngày 30/09/2026. Đầu tháng 10 này, hãng Vortexa thống kê dầu thô và khí ngưng tụ xuất cảng lên tới 18.6 triệu thùng/ngày.
Nếu lấy lượng dầu thô xuất khẩu hiện nay so nhầm với mốc 20.9 triệu thùng dầu thô và chế phẩm lọc dầu, người xem sẽ tưởng thị trường vẫn thiếu hụt hơn 2 triệu thùng/ngày. Nhưng khi đặt đúng hệ quy chiếu, lượng dầu thô rời Trung Đông không giảm mà thậm chí còn tăng, nâng cung toàn cầu tháng 9 lên 102 triệu thùng/ngày. Vậy nhưng ngày 17/10 vừa qua, dầu Brent chạm 110 USD/thùng, còn dầu giao ngay Biển Bắc lên tới 134 USD.

Trả giá đắt khi đi đường vòng
Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa ngày 28/02/2026, xuất khẩu dầu thô vùng Vịnh trừ Iran bốc hơi 72% sau 10 ngày, rơi xuống 4.5 triệu thùng/ngày. Tới tháng 9/2026, dòng chảy 16.5 triệu thùng mỗi ngày được khôi phục qua ba ngả: 60% qua Hormuz với 9.9 triệu thùng, 23% qua cảng Fujairah của UAE ngoài vịnh Oman, và 17% rời cảng Yanbu ở miền tây Saudi Arabia trên Biển Đỏ.
Nhờ các tuyến ống trên bộ, 40% lượng dầu thô xuất khẩu của khu vực hiện đi vòng qua Hormuz, cao hơn hẳn mức 17% trước chiến sự. Saudi Arabia bơm tối đa qua đường ống Đông - Tây (Petroline) dài 1,200km, nâng xuất khẩu tại Yanbu từ 0.75 triệu thùng/ngày lên 4.3 triệu thùng/ngày vào tháng 6. Cùng lúc, UAE dùng đường ống Habshan đi Fujairah dài 380km và kho ngầm Mandous để nâng xuất khẩu tại cảng Fujairah từ 1.1 triệu lên 2.7 triệu thùng/ngày.
Với Kuwait, Qatar và Iraq vốn thiếu đường ống thay thế, việc xuất khẩu phải dựa vào đội tàu con thoi chạy lặng lẽ qua Hormuz. Kpler phát hiện 63 siêu tàu cỡ lớn (VLCC, chở 2 triệu thùng dầu/tàu) chạy tuyến này. Từ tháng 5, các tàu đều tắt thiết bị nhận dạng tự động (AIS); ảnh vệ tinh radar ngày 21/09 bắt gặp 5 tàu âm thầm nhận dầu tại cảng Al Basrah ở miền nam Iraq.
Sau khi tắt định vị để lách qua eo biển Hormuz, tàu con thoi neo lại ngoài khơi vịnh Oman và bơm dầu sang các tàu chở dầu đường dài. Hoạt động chuyển tải dầu trên biển này chiếm hơn 70% lượng dầu đi qua Hormuz trong tháng 8 và từng chạm mức 86% vào tháng 5. Để bù đắp chi phí và rủi ro cho khách mua, Iraq phải chiết khấu giá dầu thô Basrah từ 34 đến 37.5 USD/thùng.
Mạng lưới này lại vấp phải điểm nghẽn thứ hai tại Biển Đỏ khi lực lượng Houthi ở Yemen phong tỏa tàu vào cảng Saudi Arabia từ ngày 20/07. Lượng dầu của Saudi Arabia đi qua eo biển Bab el-Mandeb ở cửa ngõ phía nam Biển Đỏ sụt từ hơn 3.5 triệu thùng/ngày xuống chỉ còn vài trăm ngàn thùng vào tháng 8. Các tàu nhận dầu tại cảng Yanbu buộc phải quay ngược lên phía Bắc, bơm hàng qua đường ống SUMED của Ai Cập để sang Địa Trung Hải rồi mới vòng qua châu Phi về châu Á.
Việc hàng chục siêu tàu chờ được nhận dầu từ tàu khác hoặc phải vòng qua mũi Hảo Vọng ở Nam Phi khiến hành trình sang châu Á dài thêm một tháng. Theo ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CommBank) ngày 15/10, tình trạng thiếu tàu và phí bảo hiểm đắt đỏ đã đẩy cước tàu VLCC vùng Vịnh đi Trung Quốc tăng hơn 5 lần, từ 7 USD lên 36 USD mỗi thùng. Do tàu phải đi đường vòng dài ngày, lượng dầu bị giam lênh đênh trên biển trong tháng 9 phình thêm 103 triệu thùng, buộc các nhà máy lọc dầu thiếu nguyên liệu phải rút cạn 113 triệu thùng từ các bồn dự trữ trên đất liền.

Đường ống không cứu được nguồn cung diesel
Chuyển từ khâu vận tải biển sang hạ tầng kỹ thuật sẽ thấy rõ lý do dầu thô dồi dào nhưng nhiên liệu tiêu dùng lại đứt gãy. Hai tuyến đường ống của Saudi Arabia và UAE chỉ được thiết kế để bơm dầu thô. Trong khi đó, các mặt hàng tinh chế như dầu diesel, nhiên liệu bay, và khí hóa lỏng bắt buộc phải chở bằng tàu chuyên dụng đi qua eo biển Hormuz, nơi lưu lượng tàu chở thành phẩm đã sụt giảm khoảng 80% so với mức lưu thông bình thường trước chiến sự (tháng 28/02/2026).
Báo cáo ngày 14/10 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) chỉ rõ nút thắt của nhiên liệu chế biến sâu. Khi dầu thô vùng Vịnh về sát mức cũ, sản lượng xuất khẩu sản phẩm lọc dầu Trung Đông tháng 9/2026 chỉ đạt 1.9 triệu thùng/ngày, mất gần 60% so với mức 4.7 triệu trước chiến sự. Xuất khẩu khí hóa lỏng phục vụ đun nấu và hóa dầu trong tháng 9 cũng chỉ đạt 670 ngàn thùng/ngày, chưa bằng một nửa so với 1.5 triệu thùng/ngày trước chiến tranh.
Đà sụt giảm thành phẩm từ Trung Đông cộng hưởng với tổn thất tại Nga khi máy bay không người lái Ukraine đánh trúng nhà máy lọc dầu Ryazan gần Moscow. Tháng 9, xuất khẩu ròng dầu diesel và dầu gasoil (dùng cho công nghiệp và sưởi ấm) của Trung Đông và Nga mất 1.3 triệu thùng/ngày, tương đương giảm hơn 60%.
Thiếu hụt nguồn cung đẩy giá diesel bán buôn vượt 200 USD mỗi thùng tại Singapore vào giữa tháng 9 và chạm kỷ lục 220 USD tại châu Âu cùng Mỹ. Hiệp hội Ô tô Mỹ (AAA) ngày 16/10 ghi nhận giá bán lẻ diesel tại Mỹ đạt 6.33 USD mỗi gallon (khoảng 3.78 lít), sau khi lập đỉnh 6.53 USD trong tháng 9, tăng hơn 70% so với tháng 10/2025. Cước tàu và giá dầu giao tới cảng tăng vọt ép biên lợi nhuận lọc dầu diesel tại châu Âu từ đỉnh 100 USD xuống gần 60 USD mỗi thùng đầu tháng 10/2026.

Giá cước đắt đỏ cộng với việc phải dùng dầu thô thay thế kém phù hợp khiến nhiều nhà máy lọc dầu châu Á và châu Âu hạ công suất. IEA dự báo công suất lọc dầu toàn cầu rơi xuống đáy 81 triệu thùng/ngày trong tháng 10, kéo bình quân năm 2026 xuống 82 triệu. Giá nhiên liệu cao làm nhu cầu dầu toàn cầu giảm 4.1-5.3 triệu thùng/ngày trong quý 2 và dự báo giảm 2.6 triệu thùng/ngày tính chung cả năm.
Dù tổng cầu đi xuống, dầu diesel rất khó cắt giảm vì là nhiên liệu chạy xe tải, tàu hỏa và máy nông nghiệp. Tại các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), lượng dầu gasoil dùng cho phát điện, công nghiệp và sưởi ấm giảm 8% trong 5 tháng tính đến tháng 7/2026, nhưng tiêu thụ diesel cho vận tải chỉ giảm 2%. Khi tồn kho nhiên liệu chưng cất của khối OECD tụt xuống 565 triệu thùng ngay trước mùa đông, giới buôn dầu buộc phải ráo riết gom mua các loại dầu thô ngọt nhẹ để lọc ra diesel, từ đó kéo giá dầu thô tăng vọt.
Kho dự trữ cạn kiệt, Iran và Houthi tăng cường hoạt động
Lý do căn bản nhất giữ giá dầu ở vùng 110-134 USD mỗi thùng là sự cạn kiệt kho dự trữ toàn cầu khi xung đột kéo dài. Trước chiến sự, thế giới có tồn kho 8.2 tỷ thùng nhờ cung vượt cầu 1.4 triệu thùng/ngày năm 2025. Tuy nhiên, việc lưu lượng qua eo biển Hormuz hụt mất 2.8 tỷ thùng từ tháng 3 đến tháng 8/2026 đã buộc thị trường phải rút dầu từ các kho dự trữ với tốc độ kỷ lục 2.8 triệu thùng/ngày.
Đến cuối tháng 9, lượng dầu tồn kho trên đất liền toàn cầu đã bốc hơi 509 triệu thùng so với trước chiến sự, mức thấp nhất kể từ năm 2016. Trong gói xả kho 400 triệu thùng của IEA ngày 11/03, hơn 300 triệu thùng đã được bán ra. Tại Mỹ, khi tồn kho thương mại sụt gần 8 triệu thùng vì bão Isaias và giá nhiên liệu leo thang trước bầu cử, Washington ngày 16/10 phải chào bán tối đa 17 triệu thùng từ kho dự trữ chiến lược.
Khi tấm đệm dự trữ mỏng đi, thị trường lại hứng chịu làn sóng bất ổn mới xuất phát từ thế cô lập của Iran. Trong khi các nước Ả Rập khôi phục xuất khẩu nhờ đường ống và tàu con thoi, Iran bị gạt hẳn ra ngoài do lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ áp đặt ngày 13/04 và tái lập ngày 14/07. Cộng thêm lệnh trừng phạt 17 tàu chở dầu ngày 08/10 của Bộ Tài chính Mỹ, lượng dầu thô xuất khẩu của Iran đã rớt từ mức 1.7 triệu thùng/ngày trước chiến sự về con số không.
Lần đầu tiên từ năm 1979 không tàu dầu nào của Iran rời bến, khiến 67 triệu thùng ùn ứ trên bờ. GDP quý 2/2026 của Iran giảm 10%, ngành dầu khí co hẹp 26.4%, đồng rial mất giá kỷ lục và lạm phát chạm 70%. Chứng kiến các nước láng giềng vùng Vịnh vẫn xuất khẩu tới 18.6 triệu thùng/ngày mà không cần thỏa thuận ngừng bắn, Tehran hiểu rằng quân bài phong tỏa eo biển Hormuz đang mất dần tác dụng gây sức ép.
Để đòi lại vị thế, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran lập vùng bắn phá quanh Hormuz, tấn công 12 tàu buôn từ ngày 05/10 đến 11/10 và 9 tàu trong tuần kế tiếp. Vụ bắn chìm tàu GFS Pride ngày 14/10 kéo lưu lượng dầu qua Hormuz về 9.4 triệu thùng/ngày. Cùng lúc, lực lượng Houthi liên tiếp tập kích sân bay quốc tế Riyadh ngày 10/10, đánh trúng tòa nhà của tập đoàn Saudi Aramco ngày 13/10 và phóng tên lửa nhắm vào cảng xuất khẩu dầu Yanbu ngày 16/10.
Việc giá dầu bật lên 110 USD/thùng ngày 16/10 là hệ quả của chuỗi đòn đánh này khi thỏa thuận ngừng bắn năng lượng Nga và Ukraine sụp đổ. Cùng ngày, nghị sĩ Mỹ trình dự luật chặn kế hoạch mua diesel từ Nga của Tổng thống Donald Trump trước ngày bầu cử giữa kỳ 03/11.
Sự kiện Hormuz năm 2026 cho thấy giá năng lượng được quyết định bởi lượng nhiên liệu giao tới nhà máy lọc dầu hơn là dầu thô rời cảng. Dù UAE đang đẩy nhanh dự án đường ống mới để nâng gấp đôi công suất vòng tránh qua Fujairah lên 3.6 triệu thùng/ngày vào năm 2027, Saudi Arabia lên kế hoạch mở rộng tuyến ống Đông - Tây về cảng Yanbu và Iraq đàm phán dự án đường ống sang Thổ Nhĩ Kỳ, các công trình dài hạn này vẫn không thể giải tỏa ngay cơn khát dầu diesel hiện tại.
Chừng nào tàu thương mại chưa thể đi qua eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb bình thường mà vẫn phải tắt định vị, bơm chuyền dầu qua hai chặng tàu ngoài khơi hoặc đi vòng qua mũi Hảo Vọng, phụ phí vận tải 36 USD/thùng sẽ còn neo chặt vào giá năng lượng. Khi tồn kho trên bờ hụt mất hơn nửa tỷ thùng và dự trữ chiến lược cạn dần trước mùa đông, người tiêu dùng toàn cầu vẫn phải trả giá đắt ngay giữa lúc nguồn cung dầu thô Trung Đông dồi dào.
Đức Quyền











