TS Lê Đăng Doanh: Công khai minh bạch giúp nâng cao hiệu quả đầu tư công
Theo các chuyên gia kinh tế, mỗi năm Việt Nam phải bỏ ra lượng tiền đầu tư công bằng khoảng 17-20% GDP, trong khi các nước trong khu vực chỉ dưới 5% (như Trung Quốc là 3,5%, Indonesia là 1,6%). Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam vẫn là vấn đề đang được dư luận quan tâm.
Để giải quyết bài toán này, phóng viên báo Kinh tế Việt Nam đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương xoay quanh vấn đề này.
Xin ông cho biết, đâu là vấn đề lớn của đầu tư công tại Việt Nam hiện nay?
Đầu tư công của Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng trong phát triển đất nước. Trước kia, theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì hầu như tuyệt đại đa số đầu tư của xã hội là đầu tư công. Ngày nay, khi Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường và có thu hút đầu tư nước ngoài thì đầu tư công vẫn chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, có năm ít vẫn chiếm từ 43-46% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Vì thế, đầu tư công rất quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề dư luận quan tâm nhiều về đầu tư công đó là hiệu quả đầu tư, hay nói cách khác, có đầu tư nhưng tài sản cố định mang lại ngày càng giảm đi; và đầu tư quá dàn trải.
Nếu như năm 2000, đầu tư 100 đồng chúng ta có được 82 đồng là tài sản cố định thì đến năm 2007, chúng ta đầu tư 100 đồng thì chỉ còn 60 đồng là tài sản cố định và có những dự án như xây kè, làm thuỷ lợi thì tài sản cố định chỉ còn 40 đồng thôi.
Một vấn đề nữa của đầu tư công hiện nay tại Việt Nam đó là, đầu tư quá dàn trải, “người người đầu tư, nhà nhà đầu tư”, ai cũng muốn đầu tư. Hầu như những người lên chức, từ chủ tịch xã đến hiệu trưởng đều muốn đầu tư, bởi vì ngoài lợi ích xây cho mình một “đài tưởng niệm” về công lao, sáng tạo thì có lẽ cũng còn có những phần lợi ích “chia chác” của nhà thầu rồi các đơn vị thi công “lại quả”, cho nên vấn đề giám sát đầu tư là rất quan trọng.
Sở dĩ có tình trạng trên là bởi việc phân trách nhiệm cho người quyết định đầu tư và người thực hiện đầu tư vẫn chưa rõ ràng. Có những công trình đầu tư người thi công nhận thầu (gọi là bên B) chưa kịp làm gì đã bán lại ngay lập tức (sang đối tượng B’) để lấy một lượng phí, và thậm chí có những công trình được bán đến 4 lần (B’’’’ – B bốn phảy). Vì thế số tiền thực để thi công công trình đó không còn nhiều. Đó là thực trạng đầu tư công của Việt Nam hiện nay, vì thế Nghị quyết 11 của Chính phủ đòi hỏi phải giảm đầu tư công và nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Hiệu quả đầu tư công đã được nhắc đến khá nhiều, tuy nhiên, theo ông, tại sao tình trạng này vẫn chưa được giải quyết triệt để?
Tình trạng chưa giải quyết được triệt để đó là có vấn đề của lợi ích nhóm, có sự “chia chác” của những người liên quan. Quốc hội ra nghị quyết cần phải cắt giảm, giám sát thì rất nghiêm nhưng khi thực hiện không được bao nhiêu, đó là vấn đề khó khăn, vì thế muốn làm khác đi chúng ta cần phải công khai, minh bạch, nói rõ là ai ký hợp đồng, và người ký hợp đồng ấy có thực thi không hay lại bán lại cho một người thứ hai rồi người thứ tư nữa và bán lại vì lý do gì, điều kiện ra làm sao… Tất cả cần được công bố rõ ràng trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân có thông tin và các cơ quan giám sát phải vào cuộc. Ngoài ra, cũng cần quy định trách nhiệm rõ ràng đối với người quyết định đầu tư và người thực hiện đầu tư, tránh tình trạng ai ai cũng xin đầu tư dẫn đến tình trạng đồng tiền của nhà nước và dân chi vào đầu tư không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Theo ông, việc cắt giảm đầu tư công theo Nghị quyết 11 của Chính phủ hiện nay có phải là cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề này không?
Đó là bước đầu tiên, là biện pháp hành chính để làm sao tránh việc đầu tư một cách quá đáng, còn về lâu dài thì phải thay đổi cơ chế, là phải có chế độ trách nhiệm thật rõ ràng. Đơn cử như ở Trung Quốc, họ làm như thế này. Có một hội đồng đề ra yêu cầu phải tăng năng suất 3%, xuất khẩu tăng 5%, dùng điện giảm 1%, nước giảm 3%, rồi tiền lương tăng bao nhiêu… Ai muốn làm giám đốc lập kế hoạch hành động đưa lên, hội đồng xem xét chương trình hành động của ai hay nhất, lúc bấy giờ sẽ bổ nhiệm. Được bổ nhiệm mà làm tốt tăng lương, không tốt giảm lương và sau 2 năm làm không được thì thay người khác… Theo tôi, chừng nào chúng ta làm chưa rõ ràng, không có chế độ trách nhiệm cụ thể thì chừng ấy chúng ta còn phải trả giá.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, chúng ta cần làm gì, thưa ông?
Cần phải thực hiện ngay công khai minh bạch. Đổi mới cơ chế từ việc lập dự toán, lên danh mục và phải có một chế độ hội đồng công khai, độc lập và giám sát độc lập, kiểm toán độc lập và phải có chế độ trách nhiệm rõ ràng. Nếu chúng ta tiến được những bước tiến thực sự thì bằng các biện pháp giảm đầu tư công này chúng ta sẽ mạnh lên, có hiệu quả cao hơn và sẽ có năng lực cạnh tranh. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ làm việc cắt giảm mang tính chất hành chính thì việc ấy nó chỉ diễn ra một lần và năm sau lại có cơn khát đầu tư mới./.
Xin cảm ơn ông!
|
Nghiên cứu mới đây nhất của ông Vũ Anh Tuấn - Viện Kinh tế Việt Nam cho thấy, vốn đầu tư công luôn “phình” to ra theo các năm. 10 năm qua, quy mô vốn đầu tư công tăng tới 3,2 lần, trung bình mỗi năm tăng 13,9%. Năm 2008, lạm phát, Chính phủ đã rốt ráo rà soát, cắt giảm vốn đầu tư công thì tổng vốn đầu tư công vẫn chỉ thấp hơn một chút so với năm 2007, rồi đến năm 2009, nguồn vốn này lại tăng vọt lên. Vốn đầu tư thì như vậy, song hiệu quả đầu tư thì lại rất kém. Theo thông tin TS. Tô Trung Thành (Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội) đưa ra tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam: Những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn” do Ủy ban Kinh tế phối hợp với Viện Khoa học xã hội tổ chức trong hai ngày 10 và 11/3 tại Cần Thơ vừa qua, cho thấy, hệ số ICOR (đo lường số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP) cho khu vực nhà nước là 7,8 - cao hơn mức trung bình chung của nền kinh tế là 5,2. |
Nguyễn Hòa thực hiện
Kinh tế Việt Nam









