Vũ khí trong ngăn kéo, Đạo luật 1930 và tấm khiên USMCA bị xuyên thủng
Ngày 01/08/2026, mức thuế 35% lên hàng hóa Canada chính thức có hiệu lực. Với phần lớn giới quan sát, đó chỉ là một dòng nữa trong bảng thuế đã dày đặc của 18 tháng qua. Nhưng con số ấy không phải là điều đáng chú ý nhất. Điều đáng chú ý nằm ở một câu chuyện lặng lẽ hơn, được viện dẫn từ hôm 20/07 và sẽ có hiệu lực ngày 19/08: Chính quyền Mỹ dùng Mục 338 của Đạo luật Thuế quan năm 1930 để áp thêm 50% lên một số mặt hàng Canada, kể cả những mặt hàng vốn được coi là tuân thủ hiệp định USMCA.
Sự khác biệt tưởng nhỏ mà không nhỏ. Thuế 35% công bố hồi tháng 7 vẫn chưa áp lên hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ Bắc Mỹ theo USMCA, tức khoảng 90% lượng hàng đi qua biên giới phía bắc được miễn. Tấm khiên ấy là lý do các thị trường phản ứng khá điềm tĩnh. Còn Mục 338 thì khác. Nó nhắm thẳng vào chỗ mà tấm khiên đang che, và vì thế nó chọc thủng chính lớp bảo vệ mà một hiệp định thương mại lẽ ra phải bảo đảm.
Tổng thống Mỹ Donald Trump
|
Một điều khoản ngủ quên 96 năm
Mục 338 gần như chưa từng được sử dụng trong thời hiện đại. Được viết vào năm 1930, cùng thời với đạo luật Smoot-Hawley khét tiếng đã góp phần khoét sâu Đại khủng hoảng, nó trao cho tổng thống quyền áp thuế lên tới 50% đối với hàng hóa của một quốc gia bị cho là phân biệt đối xử với thương mại Mỹ.
Suốt gần một thế kỷ, điều khoản này nằm im trong ngăn kéo, bị các công cụ mới hơn và các định chế đa phương như WTO che khuất. Việc rút nó ra khỏi ngăn kéo giống như tìm thấy một khẩu súng cũ trong kho: Nó vẫn bắn được, và chính sự cổ xưa của nó khiến đối phương khó lường.
Cái lợi của một đạo luật cũ nằm ở chỗ nó không bị ràng buộc bởi những cam kết ra đời sau nó. USMCA được ký năm 2020, còn Mục 338 có từ năm 1930. Khi một chính quyền viện dẫn công cụ cũ hơn để vượt qua cam kết mới hơn, họ đang gửi đi một thông điệp về thứ tự ưu tiên: Hiệp định là thứ có thể gác lại, còn quyền hành pháp trong nước là thứ luôn sẵn đó. Lý do được nêu ra vẫn là những chữ quen thuộc, dòng chảy fentanyl và các rào cản thương mại mà Washington cho là Ottawa dựng lên.
Khi tấm khiên bị chọc từ bên trong
Giá trị của một hiệp định thương mại không nằm ở số trang hay số chữ ký, mà nằm ở niềm tin rằng các bên sẽ coi nó là ràng buộc. Một tấm khiên chỉ có ý nghĩa khi người cầm nó tin rằng nó sẽ đỡ được đòn. Khoảnh khắc một bên tìm ra cánh cửa hậu pháp lý để vô hiệu hóa điều khoản miễn trừ, tấm khiên không còn là khiên nữa, nó chỉ còn là một tờ giấy mô tả một tấm khiên. Và điều nguy hiểm là niềm tin, một khi rạn, không rạn riêng ở chỗ bị chọc thủng. Nó lan ra toàn bộ.
Việc rút Mục 338 khỏi ngăn kéo cũng không tự nhiên diễn ra. Sau khi các tòa án siết lại thẩm quyền áp thuế trên diện rộng theo đạo luật quyền lực kinh tế khẩn cấp hồi đầu năm, chính quyền Trump đã lần lượt xoay sang những điều khoản cũ hơn nhưng có mục tiêu hẹp và khó bị bác bỏ hơn, từ Mục 301 nhằm vào các hành vi thương mại bị cho là bất công, tới nay là Mục 338 nhằm vào cái gọi là phân biệt đối xử. Mỗi lần một con đường bị chặn, một lối cũ lại được khai thông. Đó là hình ảnh của một bộ công cụ được thử lần lượt, và nó cho thấy ý chí áp thuế không dễ bị một phán quyết đơn lẻ ngăn lại.
Đây chính là chỗ mà bài toán vượt ra khỏi Canada. Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc và cả những nền kinh tế đang thương lượng như Việt Nam đều đang đặt cược vào các điều khoản trần thuế, các cam kết miễn trừ, các con số được cho là đã chốt. Nếu một điều khoản miễn trừ trong một hiệp định lớn như USMCA có thể bị một đạo luật từ năm 1930 xuyên qua, thì mọi lời hứa trên bàn đàm phán đều phải được xem xét lại. Một cam kết chỉ đáng giá bằng xác suất nó được tôn trọng, và xác suất ấy vừa giảm cho tất cả mọi người.
Cái giá của sự khó lường
Có một nghịch lý trong nghệ thuật mặc cả mà các nhà kinh tế học đã chỉ ra từ lâu: Sự khó lường có thể là một tài sản trên bàn đàm phán, nhưng nó là một khoản nợ đối với nền kinh tế.
Khi đối tác không chắc luật chơi ngày mai là gì, họ hoãn đầu tư, họ dựng tồn kho phòng thủ, họ đòi phần bù rủi ro cao hơn cho mọi hợp đồng dài hạn. Doanh nghiệp Mỹ nhập linh kiện từ Canada, các nhà máy ô tô có chuỗi cung vắt qua biên giới nhiều lần trước khi thành xe, đều phải trả cái giá của sự bất định ấy, dù thuế cuối cùng có được áp hay không.
Cũng cần nói cho công bằng. Washington không thiếu lý lẽ khi nêu vấn đề fentanyl hay các hàng rào phi thuế mà họ cho là bất công, và một quốc gia có quyền dùng các công cụ pháp lý của mình để bảo vệ lợi ích. Ottawa, về phần mình, có thể trả đũa và có thể kiện. Nhưng tranh luận về việc ai đúng ai sai trong một vụ việc cụ thể không xóa được câu hỏi lớn hơn về độ bền của các khế ước. Một hệ thống thương mại vận hành được vì phần lớn thời gian người ta không cần rút súng ra khỏi ngăn kéo.
Suy cho cùng, thứ vừa bị bào mòn ở biên giới phía bắc nước Mỹ không phải là 90% hàng hóa được miễn thuế, mà là ý niệm rằng một chữ ký có thể chống lại thời gian. Một ngăn kéo đầy những đạo luật cũ luôn là một sự cám dỗ, và mỗi lần một cánh cửa hậu được mở ra, cái giá không nằm ở lần này, mà ở tất cả những lần đàm phán sau đó, khi bên kia bàn đã học được rằng tấm khiên họ cầm có thể bị chọc từ chính bên trong.
LH










