Vụ nhà thầu Trung Quốc bị phạt 6 triệu USD: Phạt thì phạt nhưng vẫn nghiệm thu
Sau sự kiện nhà thầu EPC (Trung Quốc) thi công dự án sản xuất phân bón DAP số 1 Đình Vũ (Hải Phòng) bị chủ đầu tư là tập đoàn Hoá chất Việt Nam phạt 6 triệu USD (trên 120 tỉ đồng) do vi phạm hợp đồng, ngày 16.8, phóng viên đã phỏng vấn ông Hoàng Văn Liễu – tổng giám đốc công ty TNHH MTV DAP – Vinachem, đơn vị chủ đầu tư nhà máy DAP Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
| Chất lượng sản phẩm, mức độ tiêu hao năng lượng... nhà máy DAP Đình Vũ do nhà thầu Trung Quốc thi công không đạt. |
Ông Liễu cho biết, sau quá trình thương thảo, chúng tôi đã yêu cầu nhà thầu phải trừ vào hợp đồng một khoản tiền tương đương 6 triệu USD. Nhưng đó không phải tất cả là tiền bồi thường, mà còn gồm tiền họ phải trừ lại để chủ đầu tư tự khắc phục một số tồn tại sau chạy thử.
Cụ thể phân chia khoản tiền này ra sao, thưa ông?
Có ba khoản, trong đó một khoản là bồi thường 2,9 triệu USD vì một số chỉ tiêu về hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm không đạt so với cam kết khi nhận thầu. Nhà thầu (tập đoàn Xây dựng hoá chất quốc gia Trung Quốc) cũng chấp nhận một phần lỗi trong việc chậm tiến độ dự án, và chịu phạt 2 triệu USD. Tổng cộng hai khoản phạt này là 4,9 triệu USD. Khoản cuối cùng, một số phần việc mà chủ đầu tư đã đồng ý nhận khắc phục. Tổng giá trị những phần việc này là khoảng hơn 1 triệu USD.
Đương nhiên họ không dễ dàng chấp nhận, ban đầu ta yêu cầu bồi thường gần 10 triệu USD, họ đưa ra một số lý do. Sau khi cân nhắc, ta chấp nhận chốt mức 6 triệu USD.
Những lý do họ đưa ra là gì, thưa ông?
Có hai lý do chính, liên quan tới chất lượng sản phẩm và tiến độ dự án. Trong đó có việc thành phần nguyên liệu quặng apatit của ta chưa đảm bảo đúng theo yêu cầu ban đầu. Phần nữa là việc nâng cao hàm lượng sản phẩm lên lại đòi hỏi thời gian, và vì thế ta chọn giải pháp phạt tiền và tự mình thực hiện. Việc chậm tiến độ là do sau khi ký hợp đồng xong (31.12.2005), các ngân hàng thương mại lại không thu xếp được đủ vốn. Đến tháng 10.2006, sau khi được Thủ tướng đồng ý cho vay từ ngân hàng Phát triển Việt Nam thì dự án mới có vốn để triển khai thực hiện.
Hơn nữa, khi tổ chức đấu thầu quốc tế để chọn nhà thầu chính (EPC), do yêu cầu cao về kỹ thuật và giá gốc chào lại thấp, nên đã phải đàm phán với nhà đầu tư và phải hai lần xin ý kiến Thủ tướng. Cuối cùng sau hai năm mới chọn được nhà thầu. Thực tế từ khi chính thức khởi công (3.2007) đến khi dự án ra sản phẩm đầu tiên (4.2009) mất hơn 25 tháng. Cộng với việc biến động giá thiết bị, công nghệ, khủng hoảng kinh tế... nên dự án bị chậm tiến độ. Đây phần lớn là nguyên nhân khách quan, nên phạt nhà thầu ở mức như vậy là có thể chấp nhận được.
Thưa ông, vậy lựa chọn thiết bị sản xuất có là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng sản phẩm không đạt như cam kết?
Đây là gói thầu EPC (thiết kế, mua sắm, lắp đặt, vận hành và chuyển giao), tức là nhà thầu có toàn quyền trong các khâu đã nêu ở trên. Chủ đầu tư nghiệm thu kết quả cuối cùng. Trong quá trình thực hiện nhà thầu có trách nhiệm phải giải trình, báo cáo trên cơ sở những tiêu chuẩn về thiết bị do chủ đầu tư yêu cầu liên quan đến bản quyền công nghệ. Nhà thầu Trung Quốc đã thực hiện đúng như thế. Chúng tôi cũng thuê đơn vị kiểm định độc lập kiểm tra thiết bị, cái nào đúng mới cho lắp đặt. Sau khi bàn giao dự án, nhà thầu có trách nhiệm bảo hành trong hai năm. Thực tế trong quá trình xây dựng chúng tôi cũng thuê tư vấn giám sát việc nhập thiết bị của nhà thầu. Thiết bị có đúng thì mới cho nhập và lắp đặt.
Cụ thể việc sản phẩm không đạt hàm lượng như cam kết là gì, thưa ông?
Khi xây dựng dự án, ta và nhà thầu đều thống nhất sản phẩm phân bón do nhà máy DAP Hải Phòng sản xuất ra phải có hàm lượng dinh dưỡng 64%. Tức là sản phẩm được xếp loại đặc biệt của Trung Quốc. Hiện nay, sản phẩm của nhà máy có hàm lượng là 61%, bằng với chất lượng phân bón loại 1 nhập khẩu từ Trung Quốc, như vậy không đạt so với cam kết dự thầu...
Về nguyên tắc, khi chưa bàn giao nhà máy thì vấn để hàm lượng sản phẩm này vẫn là trách nhiệm của nhà thầu. Nhưng nếu kéo dài quá thì không phát huy được hiệu quả đầu tư và không có đủ phân bón phục vụ nông nghiệp, nên ta chấp nhận nghiệm thu với điều kiện là chất lượng đạt 61%. Sau đó ta sẽ tìm biện pháp để tiếp tục nâng chất lượng sau.
Với chất lượng này thì khả năng nhà máy có đạt kết quả hoạt động như dự kiến tại dự án không, thưa ông?
Ngoại trừ các vấn đề nêu trên thì nhà máy hoạt động rất tốt. Năm 2009, chúng tôi đã sản xuất được gần 60.000 tấn DAP chỉ sau nửa năm chính thức vận hành có tải nhà máy. Năm 2010, đã sản xuất được 156.000 tấn, doanh thu gần 1.300 tỉ đồng, bắt đầu ngay được quá trình trả nợ ngân hàng và đã có lãi 33 tỉ đồng. Năm 2011, kết thúc bảy tháng, chúng tôi đã sản xuất được 120.000 tấn sản phẩm, doanh thu 1.300 tỉ đồng và lợi nhuận trên 200 tỉ đồng. Cho đến nay chúng tôi đã trả được hơn 557 tỉ đồng tiền gốc trong tổng số 1.750 tỉ đồng vay xây dựng nhà máy rồi.
Quốc Dũng thực hiện
sài gòn tiếp thị









