Chính sách tỷ giá của Trung Quốc
Trong thời gian qua, mâu thuẫn về vấn đề tiền tệ giữa các trụ cột kinh tế thế giới là Mỹ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng trở nên rõ nét do các nước buộc tội lẫn nhau về sự sụt giảm nhu cầu toàn cầu hơn là đánh giá đúng bản chất của thương mại quốc tế trên tinh thần hợp tác để thúc đẩy tăng trưởng.
Cũng như nhiều nền kinh tế mới nổi khác, phía Trung Quốc cho rằng, chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng sẽ tạo thặng dư tăng trưởng cho kinh tế toàn cầu vì nó khuyến khích nhà đầu tư đổ vốn nhiều hơn vào các nền kinh tế mới nổi nhằm đạt lợi nhuận cao. Trong đó, biện pháp được các nước sử dụng là phong tỏa dòng vốn vào để tăng dự trữ ngoại hối và kiềm chế lạm phát. Sau khủng hoảng 1997, một số nước châu Á đã áp dụng biện pháp bất thường này rồi từ từ bãi bỏ. Tuy nhiên, Trung Quốc lại duy trì chính sách này quá lâu (kiểm soát dòng vốn vào đồng thời với việc gắn NDT vào USD), và đây là lý do cơ bản để Mỹ, EU, Nhật Bản hối thúc Trung Quốc phải đẩy nhanh tốc độ tăng giá NDT. Trung Quốc đã phản ứng và khẳng định là chỉ tăng giá NDT theo lộ trình từng bước, NDT tăng 20-40% sẽ ảnh hưởng đến việc làm của người lao động và các vấn đề xã hội.
Nhờ kiểm soát ngoại hối và nhà nước giữ lại ngoại tệ, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng mạnh và chiếm khoảng 30% dự trữ ngoại hối toàn cầu. Theo thông tin của Bloomberg, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng 100 tỷ USD trong tháng 9 lên 2.650 tỷ USD, nhưng lạm phát tăng cao nhất trong 22 tháng qua lên 3,5% vào tháng 8. Để kiểm soát lạm phát, một phần ngoại tệ lại bị đóng băng chứ không bơm vào nền kinh tế, làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông và NDT không thể lên giá. Mặt khác, tình trạng mất cân bằng ngoại thương cũng được điều chỉnh tự động do Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã đạt được tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng cường sản xuất hàng xuất khẩu, nền kinh tế này cần tăng ít nhất 8%/năm để tạo việc làm cho người lao động và ổn định các vấn đề xã hội.
Một nghiên cứu của Fed cho thấy, nếu NDT tăng giá khoảng 10% kể từ giữa năm 2005, giá trị xuất khẩu của Trung Quốc có thể giảm 30% so với hiện nay. Tuy nhiên, NDT mạnh sẽ cho phép người dân trong nước phải trả ít hơn đối với những nguyên liệu nhập khẩu như xăng dầu, khoáng sản và hàng tư liệu sản xuất, điều này làm lợi cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước. Nếu nâng giá NDT một cách nhanh chóng sẽ giảm đáng kể thặng dư thương mại của Trung Quốc, và điều này giúp giảm thâm hụt mậu dịch của Mỹ, những yếu tố khác của tăng trưởng có thể bù cho sự sụt giảm của xuất khẩu. Năm ngoái, xuất khẩu thấp đã kéo GDP của Trung Quốc giảm một chút nhưng vẫn tăng 8,7%, trong đó tỷ trọng đầu tư đã chiếm 92% tăng trưởng GDP và tiêu thụ nội địa nhiều hơn 50%.
Từ đầu tháng 9 cho đến giữa tháng 10, USD đã mất giá 7% so với những ngoại tệ khác. Do kinh tế Mỹ chưa phục hồi và Fed dự kiến phải bơm tiền vào nền kinh tế, và biện pháp này sẽ gây ra một chuỗi biến động ngoại hối trên các thị trường quốc tế khiến nhiều người e ngại về một cuộc chiến tiền tệ, châm ngòi cho cuộc chiến thương mại khi các nước đều đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Sở dĩ như vậy là vì, khi NDT được neo vào USD với tỷ giá thấp thì chính USD lại tuột giá nặng, làm cho đồng tiền của những nước khác tăng giá và các chính phủ phải can thiệp vào thị trường ngoại hối. Kể từ ngày 21/7/2010, Fed đã nhiều lần phát tín hiệu về đợt nới lỏng tiền tệ mới, khiến đồng USD giảm giá mạnh so với euro, yên Nhật, frank Thụy Sĩ và các đồng tiền mới nổi. Đồng USD yếu tạo ra những luồng “tín dụng nóng” đầu cơ ngắn hạn chảy vào thị trường chứng khoán tại các nước đang phát triển, nơi hứa hẹn tỷ lệ sinh lợi cao, kênh tín dụng này là một yếu tố đẩy giá hàng hoá tăng cao.
Sự phụ thuộc vào USD mang lại một số lợi thế như ổn định thị trường tiền tệ và NHTW không thể in thêm tiền trong trường hợp thâm hụt ngân sách, vì điều này càng làm cho đồng bản tệ bị mất giá và gây áp lực lạm phát. Tuy nhiên, tình trạng phụ thuộc vào USD sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát tiền cung ứng và điều hành tỷ giá, thậm chí NHTW không thể làm gì để giảm bớt lượng tiền dôi ra để kiềm chế lạm phát.
Sau khi phát hành tiền để kiềm chế tăng giá NDT, PBC phải bán nợ và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để kiềm chế lạm phát, cho dù NDT lên giá. Trong 9 tháng qua, PBC đã bán ròng 209,7 tỷ NDT (32 tỷ USD) trái phiếu sau khi mua ròng 579,5 tỷ NDT trong năm 2009. Đầu tháng 10, PBC đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với 4 NHTM lớn nhất thêm 0,5 điểm phần trăm, động thái này có thể cắt giảm cho vay nền kinh tế khoảng 170 tỷ NDT.
Tuy nhiên, những biện pháp thắt chặt tiền tệ trên đây của Trung Quốc đang bị bão hòa bởi tin đồn Mỹ sẽ tung ra thêm 500 tỷ USD trong chiến dịch nới lỏng tiền tệ đợt hai. Nước cờ này của Fed, trong khi chưa thấy mang lại ích lợi cho người lao động Mỹ, đã gây tác động tiêu cực tới Trung Quốc và Ấn Độ: đẩy giá hàng hóa tăng cao và buộc NHTW phải thắt chặt CSTT. Dường như PBC đã nhìn thấy sự cần thiết phải thả NDT lên giá nhanh hơn so với đồng USD để có thể khống chế giá cả hàng hóa nhập khẩu trong tầm kiểm soát.
Ngày 19/10/2010, PBC đã bất ngờ tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25%, đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm lên 2,5% và lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm lên 5,56%, lần đầu tiên trong gần 3 năm trở lại đây. Đây là biện pháp bắt buộc, mặc dù PBC biết rằng tăng lãi suất hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc chỉ có thể làm tăng dòng vốn vào ngắn hạn do kỳ vọng NDT phải lên giá. Giới phân tích cho rằng, động thái này phản ánh những lo ngại về sự leo thang của giá tài sản và có thể mở màn cho một thời kỳ CSTT thắt chặt hơn tại nền kinh tế này, góp phần giảm nhẹ lo ngại về một cuộc chiến tiền tệ trước Hội nghị thượng đỉnh G20 sắp tới. Bằng cách nâng lãi suất, Trung Quốc hy vọng là không cần tăng giá NDT mà vẫn duy trì được sự cân bằng trong nền kinh tế.
Như vậy, việc kiềm chế NDT ở mức quá thấp so với giá trị thực tuy mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc nhưng cũng gây khó khăn cho việc điều hành CSTT.
Hoàng Thế Thỏa
SBV









