Hàn Quốc: Sau điều kỳ diệu sẽ là gì?
Hàn Quốc đã phát triển vượt bậc, chuyển từ một nền kinh tế nông thôn thành một cường quốc công nghiệp. Để duy trì tăng trưởng, giờ là lúc phải tiến hành một số thay đổi căn bản và khó khăn.
Trong khi đón tiếp các nguyên thủ quốc gia 20 nền kinh tế giàu nhất thế giới (từ ngày 11 - 12/11), Hàn Quốc cũng phải đối phó với một sự thật không dễ chịu gì: Chiến lược kinh tế thành công đáng kinh ngạc từng giúp họ giành quyền đăng cai một hội nghị như vậy sắp hết tác dụng. Và sự thay thế nó sẽ không hề dễ dàng.
50 năm trước còn bị mắc kẹt trong nghèo đói, Hàn Quốc giờ đây đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 15 thế giới, quê hương của các công ty nổi tiếng toàn cầu như Samsung và Hyundai và là hình mẫu cho các nước đang phát triển.
Nhưng chiến lược kinh tế có hiệu quả trong một thời gian dài đã phát huy hết tác dụng của nó. Hàn Quốc về cơ bản đã trở nên giàu có như mong muốn bằng cách dựa vào xuất khẩu để biến một nền kinh tế nông thôn thành một nền kinh tế công nghiệp hóa. 43% sản lượng của nước này là hàng hóa xuất khẩu, nhiều hơn bất cứ quốc gia tiên tiến nào khác.
Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Yoon Jeung-hyun nhận định hồi tháng Bảy: "Đất nước đã đi đến một bước ngoặt. Ngành công nghiệp xuất khẩu đã bắt đầu hạn chế về khả năng tạo việc làm và giá trị gia tăng".
Vấn đề mà Hàn Quốc phải đối mặt hiện nay vừa đơn giản vừa phức tạp: Liệu họ có thực hiện được các bước thay đổi cần thiết - về kinh tế, chính trị và văn hóa - để tiếp tục phát triển đi lên hay không?
Hàn Quốc sẽ phải giảm sự can thiệp quá nhiều của chính phủ vào nền kinh tế, một thói quen cũ từ thời các tổng thống và bộ trưởng đầy quyền lực ra quyết định về việc phải làm gì với nguồn vốn khan hiếm. Nước này cũng sẽ phải từ bỏ sự gắn bó với chế độ thứ bậc kiểu Khổng Tử, theo bước những nước láng giềng như Nhật Bản, Trung Quốc và Singapore.
Trong một cuộc phỏng vấn tuần trước, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak đã mô tả tình hình hiện nay một cách bao quát như sau: "Có nhiều việc phải làm trong cuộc cải cách nhiều thể chế xã hội và các quy chuẩn cũng như thói quen và truyền thống mà chúng ta đã có từ rất nhiều năm nay". Ông nhấn mạnh: "Một vài trong số này đã biến thành vật cản, ngăn chúng ta trở thành một nước tiên tiến hơn. Chúng ta cần phải cố gắng thay đổi".
Hàn Quốc đối đầu với các thách thức của mình như thế nào sẽ được theo dõi bởi hàng chục nước nghèo đang bắt chước mô hình phát triển dựa trên xuất khẩu rất thành công của nước này, và bởi những nền kinh tế có mức thu nhập trung bình như Đài Loan (Trung Quốc), Arập Xêút, Israel và Bồ Đào Nha - những nền kinh tế cũng đang rơi vào trì trệ.
Nổi lên và chững lại
Sự nổi lên nhanh chóng của Hàn Quốc đã bắt đầu từ những năm 1960 dưới thời Tổng thống Park Chung-hee, người đưa nguồn vốn và các nguồn lực khan hiếm vào nhiều ngành công nghiệp theo gương Nhật Bản - ngành dệt may, thép, xe hơi và điện tử.
Thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc đạt 20.000 USD năm 2007. Cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997-1998 khiến các công ty tìm cách kiếm lời hơn là giúp tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên sự chệch đường này cũng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn.
Mặc dù vậy, đằng sau sự thịnh vượng phát tài này, những mầm mống khủng hoảng cũng bắt đầu sinh sôi. Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc trong thập kỷ vừa qua đạt trung bình 4,3%/năm, giảm so với mức 6,2% trong những năm 1990. Năm nay, nước này tăng trưởng khoảng 6%, tốt hơn bất cứ nước tiên tiến nào. Nhưng các nhà kinh tế dự báo mức tăng trưởng trong năm tới sẽ chỉ còn khoảng 3-4,5%.
Hơn thế, theo Phòng thương mại và công nghiệp Hàn Quốc (CCI), tiềm năng tăng trưởng của nước này trong 15 năm qua đã giảm mạnh hơn bất kỳ nước phát triển nào. Nghiên cứu mới đây của CCI cho thấy tiềm năng tăng trưởng của Hàn Quốc - tức là sản lượng tối đa có thể tạo ra khi tất cả các tác nhân sản xuất như lao động và vốn được sử dụng - hiện đạt khoảng 4%/năm và sẽ giảm xuống còn 2-3%/năm trong 10 năm tới.
Tất cả những điều này diễn ra tại Hàn Quốc trong bối cảnh mức thu nhập thấp hơn khi nó xảy ra với Nhật Bản - tấm gương của Hàn Quốc về mô hình phát triển, luật pháp và văn hóa. Cuối những năm 1980, khi tiềm năng tăng trưởng của Nhật giảm xuống còn 3-4%, thu nhập bình quân đầu người ở đây là hơn 30.000 USD. Trong khi mức hiện thời của Hàn Quốc chỉ khoảng 20.000 USD.
Người ít, trình độ cao
Một phần nguyên do dẫn tới sự chững lại của kinh tế là dân số: Đơn giản là Hàn Quốc không có người để tham gia lao động, tạo ra tăng trưởng. Tỷ lệ sinh chỉ đạt 1,15 em bé/1phụ nữ, mức thấp nhất trong số các nước phát triển. Số người ở độ tuổi từ 25-49 đã nằm ở đỉnh tháp dân số, và đến năm 2017-2019 số dân ở độ tuổi lao động sẽ còn thu hẹp hơn nữa.
Thêm vào đó, có tình trạng nhiều người đã đạt đến một trình độ khiến họ không chấp nhận những công việc lương thấp và không đòi hỏi cao về chuyên môn. Chính điều này khiến khu vực nông thôn và sản xuất thiếu lao động trầm trọng, trong khi rất nhiều sinh viên mới tốt nghiệp dành những năm tuổi 20 của mình để chờ cơ hội làm việc tại các công ty lớn và trong chính phủ.
Giới chuyên gia nhận định mô hình hiện nay đối với Hàn Quốc nên giống như các nước châu Âu và Mỹ: phát triển mạnh ngành công nghiệp dịch vụ, sử dụng nhân công trình độ cao và nâng cao năng lực sản xuất hiện tại, đồng thời chuyển hướng tới công việc trong lĩnh vực môi trường vốn thúc đẩy sự sáng tạo. Nhưng để được như vậy, Hàn Quốc sẽ cần định hình lại nền kinh tế của mình và chống lại các truyền thống văn hóa tạo ra những rào cản đối với phụ nữ và người nhập cư tham gia xã hội việc làm.
Theo ông Jasper Kim, một giáo sư luật tại đại học Ewha ở Seoul, Hàn Quốc phải quyết định liệu họ sẽ tái cấu trúc mình và tiếp tục phát triển hay đã sẵn sàng cho một "buổi hoàng hôn kiểu Nhật".
Phải mạnh tay
Việc đầu tiên mà chính phủ phải làm là ngừng quản lý tiểu tiết đối với nền kinh tế. Sự can thiệp như vậy chỉ có ý nghĩa trong một đất nước với nguồn vốn hạn chế và trình độ giáo dục thấp. Nhưng Hàn Quốc không còn như vậy, và bàn tay của chính phủ sẽ chỉ cản trở cạnh tranh và tăng trưởng. Các quan chức chính phủ Hàn Quốc hiểu rõ vấn đề này. Nhưng chưa thể giải quyết nó.
Năm 2007, Tổng thống Lee tranh cử với lời hứa tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch "747" - tăng trưởng 7%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 40.000 USD và trở thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới vào năm 2018. Yếu tố chìa khóa là giảm bớt vai trò của chính phủ.
Ông Lee có ý định tiến hành tư nhân hóa khoảng 40 trong tổng số 400 công ty và tập đoàn của chính phủ với hy vọng thúc đẩy lao động dựa trên lợi nhuận. Nhưng đến đầu năm nay, chỉ một thương vụ được tiến hành - một cổ phần nhỏ trong công ty chủ sở hữu sân bay quốc tế tại ngoại ô Seoul. Tháng Chín, họ thậm chí còn ngừng việc cổ phần hóa này với lý do có nhiều chỉ trích chính trị.
Sự chống cự tương tự đã xảy ra với thế độc quyền của chính phủ về tỷ lệ và bán quảng cáo trên truyền hình. Hai năm trước, tòa án hiến pháp nước này đã ra lệnh cấm kiểm soát việc này, vì đó là sự độc quyền bất hợp pháp. Nhưng kết quả là thậm chí còn có thêm nhiều cơ quan chính phủ tham gia hơn. Ngành công nghiệp truyền thông ở Hàn Quốc chỉ chiếm chưa đầy 1% GDP, so với hơn 2% ở Nhật Bản và 3% ở Mỹ.
Mùa hè vừa qua, Tổng thống Lee và các cấp phó của ông đã muốn thay đổi các kế hoạch xây dựng một thành phố trị giá 20 tỷ USD mà các nghị sĩ đã quyết định là ngôi nhà mới cho một nửa cơ quan chính phủ. Ông lập luận rằng dự án này phải được thay đổi theo nhu cầu của khối tư nhân. Nhưng ông đã không vượt qua được cuộc thảo luận tại Quốc hội. Kết quả là Thủ tướng Chung Un-chan, một chuyên gia kinh tế phụ trách kế hoạch thành phố chính phủ này, đã phải từ chức hồi tháng Bảy.
Một phần nguyên nhân khiến chính phủ can thiệp nhiều vào nền kinh tế là vì nó phù hợp với niềm tin và quyền lực thứ bậc trong xã hội Hàn Quốc, theo thuyết Khổng Tử. Người Hàn Quốc thường nghe theo lời dạy bảo của người lớn tuổi hơn mình, một thói quen tốt nhằm đề cao sự hiểu biết và kinh nghiệm của người lớn tuổi, nhưng lại cũng dẫn tới việc triệt tiêu sáng tạo và những ý tưởng mới.
Và truyền thống tôn ti còn phức tạp hơn khi nói đến bình đẳng giới. Cho tới những năm 1990, sách giáo khoa Hàn Quốc vẫn dạy rằng phụ nữ nên ở nhà. Đến nay, phụ nữ cũng thường bị khuyến khích thôi việc khi họ có thai. Phải đến tháng Tư vừa qua, lần đầu tiên có một luật sư đã buộc một công ty Hàn Quốc phải chịu trách nhiệm pháp lý trong một trường hợp quấy rối tình dục giữa ông chủ với nữ nhân viên.
Ngày nay, chỉ 53% phụ nữ Hàn Quốc đi làm, thấp hơn so với con số 57% ở các nước phát triển. Vấn đề này sẽ càng nghiêm trọng hơn khi lực lượng lao động bắt đầu thu hẹp trong thập kỷ tới. Mức lương trung bình của phụ nữ Hàn Quốc đạt 16,931 USD, chỉ bằng một nửa của nam giới (32,668 USD). Đây là sự chênh lệch lớn nhất về lương giữa hai giới trong số các nước phát triển. Và đối với phụ nữ đi làm, các cơ hội thăng tiến cũng bị cản trở bởi văn hóa trọng nam vẫn phổ biến trong giới kinh doanh.
"Miếng đệm" không mong muốn
Cú hích mạnh nhất cho tăng trưởng sẽ là phải hoan nghênh các lao động nước ngoài và người nhập cư vào Hàn Quốc. Nước này hiện có 557.000 lao động nước ngoài, chiếm khoảng 2% trong tổng số 23 triệu người lao động Hàn Quốc. Con số này cao hơn ở Nhật Bản (chưa đạt 1%) nhưng lại thấp hơn nhiều so với Mỹ (10%).
Nhưng theo luật lao động, người nước ngoài chỉ có thể làm việc cho các công ty Hàn Quốc trong 5 năm. Người nhập cư thì cực kỳ hiếm, dù đã tăng trong những năm gần đây nhờ chiến lược nhập cư đặc biệt: phụ nữ từ các nước khác, chủ yếu ở Đông Nam Á, làm đám cưới với các nông dân nam cô đơn của Hàn Quốc sau khi người vợ trẻ của họ đã chuyển ra thành phố sống.
Min San-gi, chủ sở hữu công ty sản xuất linh kiện xe hơi tại thành phố Suwon, bị giới hạn ở mức tuyển 10 người nước ngoài làm trong xưởng có 50 nhân công của mình. Các nhân công ngoại quốc của anh sẽ làm việc cho anh trong 5 năm, nhưng các công nhân bản địa có xu hướng rời đi nhanh hơn, có khi chỉ vài tháng tới một năm. Dù trả lương không cao, nhưng ông Min đối xử tốt với các nhân công ngoại quốc và thường được nhận giải thưởng của một nhóm nhân đạo Cơ đốc giáo vì sự hợp tác với người nước ngoài.
Trong khi đó, cũng như các chủ doanh nghiệp nhỏ khác, công ty của ông Min phải chịu cảnh nhân công người Hàn đổi chỗ làm liên tục để tìm cơ hội mới. Kết quả là ông Min đã phải chấp nhận để công ty tập phát triển ở chỗ khác: cách đây 3 năm, ông đã mở một công ty lớn tại Việt Nam, nơi ông không gặp khó khăn gì khi tìm nhân công.
Điều gì sẽ đến?
Giáo sư kinh tế Huh Chan-guk, tại trường đại học Chungnam ở Daejeon nhận định đối mặt với những vấn đề ngày nay khó hơn tập trung vượt khó trong những năm 1960.
Đối với các chuyên gia kinh tế nghiên cứu về Hàn Quốc, thế tiến thoái lưỡng nan của tăng trưởng ở Hàn Quốc đã trở thành mạch nha để đưa ra các học thuyết; một số ngân hàng đầu tư gần đây đưa ra các hình thức để cài số cho tăng trưởng trong trung và dài hạn.
Một nghiên cứu của Danny Leipziger, giáo sư Đại học George Washington và cựu Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), cho biết nếu cải thiện sản lượng đủ và tăng cường sử dụng lao động nữ và người già, Hàn Quốc có thể đạt mục tiêu tăng trưởng tới 7% mà Tổng thống Lee đặt ra./.
Quốc Thái
vietnamnet









