Kiểm soát lạm phát trước mặt bằng giá mới
Diễn biến tình hình giá cả của nhiều mặt hàng tăng đồng loạt trong thời gian qua và dự báo xu hướng tương lai vẫn giữ ở mức tương đối cao, cho thấy rằng giá cả thế giới đang hình thành nên một mặt bằng mới cao hơn so với cùng kỳ những năm trước đây.
Diễn biến tình hình giá cả của nhiều mặt hàng tăng đồng loạt trong thời gian qua và dự báo xu hướng tương lai vẫn giữ ở mức tương đối cao, cho thấy rằng giá cả thế giới đang hình thành nên một mặt bằng mới cao hơn so với cùng kỳ những năm trước đây.
Điều này đã tác động và làm cho giá cả thị trường trong nước tăng theo và cũng hình thành một mặt bằng giá mới cao hơn. Như vậy, nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện mặt bằng giá mới sẽ phải đối mặt với những vấn đề gì, việc kiểm soát lạm phát, bình ổn giá và mục tiêu tăng trưởng sẽ được giải quyết ra sao?
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc những ý kiến từ các nhà nghiên cứu, học giả, kinh doanh và quản lý trước việc xác định sự tồn tại của mặt bằng giá mới, nguyên nhân hình thành, dự báo xu hướng vận động và những tác động của nó tới nền kinh tế thế giới và thị trường Việt Nam cũng như những giải pháp trước mắt và lâu dài để đối phó với diễn biến mặt bằng giá mới trong việc kiểm soát lạm phát và bình ổn giá cả trong nước.
Giữ vững các cân đối vĩ mô
(Ông Nguyễn Tiến Thoả, Phó cục trưởng Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính)
"Nền kinh tế thế giới từ nay đến hết năm 2005 và thời gian tiếp theo vẫn tiềm ẩn những biến động khó lường về yếu tố giá cả, tài chính tiền tệ. Nhu cầu tiêu dùng nguyên vật liệu sẽ vẫn đứng ở mức cao và có khả năng vận động theo xu hướng tăng vững, những bất ổn do rủi ro từ yếu tố địa - chính trị sẽ làm cho giá hàng hóa, nhất là giá hàng cơ bản tăng cao. Nhiều dự báo đưa ra nhận định khả năng giá dầu có thể lên tới 80 USD/thùng và như vậy các sản phẩm gốc dầu sẽ tác động trực tiếp đẩy giá trong nước tăng.
Bên cạnh đó, những yếu tố tác động từ nội tại nền kinh tế, thiên tai, dịch bệnh luôn thường trực ảnh hưởng đến sự vận động của giá cả thị trường.
Tôi cho rằng, trước hết chúng ta phải tiếp tục giữ vững những cân đối vĩ mô của nền kinh tế trong mọi tình huống. Tình hình diễn biến thị trường cần được dự báo, theo dõi sát sao hơn nữa, không để xảy ra mất cân đối cục bộ, nhất là những vật tư, hàng hoá quan trọng là đầu vào của nền kinh tế và nhu yếu phẩm của đời sống nhân dân. Không để độc quyền trong kinh doanh và phân phối, chống buôn lậu và đầu cơ tăng giá, đặc biệt với những hàng hoá thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, phân bón, xi măng, đường...
Ngoài ra, cần bảo đảm an ninh lương thực, điều hành lượng gạo xuất khẩu năm 2005 ở mức hợp lý, ổn định giá lúa gạo trong nước, không để xảy ra tình trạng thiết đói ở các vùng gặp thiên tai, vùng sâu, xa và kiên quyết không để dịch cúm gia cầm bùng phát trở lại.
Các mặt hàng quan trọng như điện, than, xi măng vẫn phải giữ giá ổn định đến hết năm 2005, giá các loại dầu vẫn được vẫn tiếp tục được bao cấp, việc bình ổn giá cước vận tải phải được tính toán trên cơ sở giảm chi phí trung gian để hạ giá thành, cước phí bưu chính viễn thông, Internet cần được điều chỉnh đạt mức bằng hoặc thấp hơn mức cước bình quân của các nước trong khu vực.
Bên cạnh đó, các biện pháp tài chính - tiền tệ tác động tới sự hình thành và vận động của giá cả cần phải được chủ động sử dụng hiệu quả. Cụ thể, chúng ta cần tổ chức thực hiện nghiêm ngặt các giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là chi phí thường xuyên, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục giữ ổn định thuế nhập khẩu xăng dầu ở mức 0% và bù lỗ cho dầu để giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, phải chủ động điều hành linh hoạt tỷ giá, lãi suất theo hướng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu và kết hợp với các công cụ khác phù hợp với cơ chế thị trường, không để xảy ra đột biến, nhằm ổn định tiền tệ và kinh tế vĩ mô.
Về phía mình, các doanh nghiệp phải tiếp tục có trách nhiệm tìm mọi biện pháp cải tiến công nghệ, tiết kiệm chi phí nguyên nhiên vật liệu, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, và khắc phục tăng giá đầu vào, kiềm chế tăng giá đầu ra. Các bộ ngành, cơ quan chủ quản cần điều hành hoạt động của thị trường một cách hiệu quả, tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc để đẩy mạnh xuất khẩu và bên cạnh đó phải chấn chỉnh lại mạng lưới kinh doanh nhằm khắc phục tình trạng mua bán vòng vèo, chồng chéo, góp phần giảm bớt chi phí.
Cuối cùng, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm soát thị trường, các yếu tố hình thành giá, kiểm soát việc chấp hành kỷ luật Nhà nước về giá để ngăn ngừa tình trạng nâng giá tuỳ tiện, bất hợp lý".
Cân đối giữa tăng trưởng với lạm phát
(PGS-TS. Nguyễn Thị Mùi, Phó giám đốc Học viện Tài chính)
"Mục tiêu cuối cùng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào vẫn là ổn định tiền tệ. Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước phải sử dụng các công cụ với mức độ rộng, hẹp nhất định trong từng thời kỳ.
Tại Việt
Như vậy, việc tăng dự trữ bắt buộc và lãi suất tái cấp vốn sẽ làm giảm áp lực lạm phát nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế trong khi mục tiêu tăng trưởng đặt ra ở mức rất cao trong những tháng cuối năm nay. Vấn đề này đang đặt ra cho các cơ quan hoạch định chính sách một sự lựa chọn khi mục tiêu tăng trưởng muốn đạt được còn khá nhiều trong khi tỷ lệ lạm phát đã vượt mục tiêu đề ra cho cả năm 2005.
Theo tôi, chúng ta vẫn chưa đến lúc phải "hy sinh" mục tiêu này để đạt được mục tiêu kia, ưu tiên cho tăng trưởng nhưng không phải với bất cứ giá nào. Một mặt vẫn cần gia tăng tín dụng cho nền kinh tế, mở rộng diện tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước thay vì nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm tăng chi phí vay mượn. Điều này sẽ khuyến khích các ngân hàng thương mại gia tăng huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, vừa tăng vốn cho đầu tư, vừa giảm áp lực tăng giá.
Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ việc gia tăng khối lượng tín dụng cho những công trình được đánh giá là hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả thiết thực do các tổ chức tín dụng đã đang hoặc sẽ đầu tư.
Thông thường thâm hụt ngân sách có thể được trang trải bằng cách Ngân hàng Nhà nước phát hành cho ngân sách Nhà nước vay để bù đắp nhu cầu chi tiêu thiếu hụt và điều này sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát. Trong điều kiện hiện nay, chúng ta đang cần ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thu chi ngân sách chưa được cân đối thì giải pháp trên là cần thiết song khi được thực hiện lâu và kéo dài đã và đang làm cho Ngân hàng Nhà nước bị động trong việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là ổn định tiền tệ.
Do đó, chúng ta cần thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính trong chính sách tài khóa, điều hành gắn với chính sách tiền tệ để giảm áp lực lạm phát gia tăng.
Về chính sách tỷ giá hối đoái, tại Việt Nam có một nghịch lý là CPI 8 tháng đầu năm là 6%, lãi suất tiền gửi ngân hàng liên tục tăng nhưng tỷ giá VND/USD chỉ tăng khoảng 0,4%. Điều này có thể lý giải bằng việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát trong chính sách tiền tệ, chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là duy trì tỷ giá ổn định không chỉ với USD mà cả với các đồng tiền của những quốc gia có quan hệ thương mại, vay nợ và đầu tư lớn với Việt Nam.
Những năm qua, tỷ lệ nhập siêu ở nước ta lớn, việc ổn định tỷ giá cũng nhằm giảm sức ép về nợ nước ngoài. Với chính sách tỷ giá hiện hành của Ngân hàng Nhà nước, xét trên khía cạnh tổng thể nhiều người cho là hợp lý. Trong điều kiện thâm hụt thương mại và vãng lai rất lớn, xu hướng tăng lãi suất tiền gửi còn kéo dài, nếu vẫn tiếp tục duy trì tỷ giá linh hoạt cứng này thì sẽ hàm chứa cú sốc về tỷ giá trong tương lai.
Song trước mắt, việc thả nổi tỷ giá hối đoái ở Việt Nam chưa thực hiện được do nền kinh tế chưa phát triển ổn định, hệ thống ngân hàng còn yếu kém, đồng tiền trong nước luôn bị đánh giá cao trong khi tiền của một số nước trong khu vực lại đang bị đánh giá thấp so với USD.
Mặt khác, tỷ giá VND/USD rất ít khi đạt mức trần của biên độ (+/- 0,25%), vì vậy chỉ cần thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn bằng cách nới lỏng biên độ dao động hoặc nới lỏng sự quản lý tỷ giá sẽ giúp chúng ta vừa đẩy mạnh xuất khẩu, đảm bảo tăng trưởng kinh tế lại không tạo thêm rủi ro về lạm phát như việc thả nổi tỷ giá, từng bước điều hành chính sách tỷ giá một cách linh hoạt hơn, hướng tới việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo tín hiệu thị trường.
Ngoài ra, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, giá một số mặt hàng trong nước chịu tác động lớn bởi mặt bằng giá mới trên thế giới, vì vậy việc chấp nhận mặt bằng giá mới là điều phải tính tới"
Mặt bằng giá dầu mới đã hình thành
(TS. Bùi Ngọc Bảo, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt
"Xăng dầu là yếu tố chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào lớn của nhiều ngành kinh tế và hiện nay chúng ta đang phải nhập khẩu gần như 100% khối lượng cho tiêu dùng của nền kinh tế.
Là một nước đang phát triển, nhu cầu xăng dầu của Việt Nam luôn tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP nên tác động của mặt bằng giá dầu thế giới đến giá trong nước và ảnh hưởng dây chuyền đến toàn bộ nền kinh tế là rất lớn. Năm 2005, ngược với nhiều dự đoán, giá dầu thế giới không có dấu hiệu dịu đi mà còn tiếp tục tăng cao.
Việc dự báo xu thế giá dầu thế giới là rất khó bởi lẽ hiện nay giá biến động phi quy luật và tăng giảm phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là một mặt bằng giá dầu mới trên thế giới đã được hình thành, nhiều quốc gia đã dùng mặt bằng giá dầu xoay quanh mức 50-60USD/thùng để tính toán các chỉ số và hoạch định chính sách điều hành nền kinh tế với nhận định rằng giá dầu thế giới sẽ không thể quay lại mặt bằng 28-30USD/thùng như OPEC đã từng tuyên bố và thất bại.
Sự biến động giá cả hàng hóa thị trường thế giới tác động trực tiếp và nhanh chóng làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng cao gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân và đây là một thực tế khách quan.
Giải pháp điều hành giá xăng dầu và một số mặt hàng khác có liên quan như hiện nay tuy có tác dụng trước mắt, song xét về lâu dài là thiếu tích cực bởi nó sẽ tạo ra sự "dồn nén" của nền kinh tế khi nhiều ngành nghề đang được điều hành và hoạch định chiến lược trên cơ sở những yếu tố chi phí, giá thành không thực. Chúng ta không thể và cũng không có khả năng giữ hệ thống giá trong nước biệt lập với thị trường thế giới.
Vì vậy, việc thiết lập một mặt bằng giá mới trong nước trên cơ sở xác định đúng, đủ, và hợp lý các chi phí sản xuất trong đó có chi phí quản lý hướng tới mục tiêu ổn định, tăng thu - giảm chi từ ngân sách Nhà nước là một trong những giải pháp có tính căn bản nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát mà vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định của nền kinh tế trong điều kiện mặt bằng giá mới thế giới đã hình thành.
Từ góc độ của doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong kinh doanh, đáp ứng nhu cầu xăng dầu của nền kinh tế và bình ổn thị trường, chúng tôi đưa ra đề xuất một số giải pháp cụ thể đối với Nhà nước và các doanh nghiệp trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thị trường xăng dầu nội địa.
Trước hết, cơ chế quản lý Nhà nước đối với mặt hàng này cần được đổi mới theo nguyên tắc hợp lý, khoa học, có hiệu quả và đồng bộ, trong đó bao gồm các tiêu chí chủ yếu như: quyền, chỉ tiêu nhập khẩu, cơ chế giá - thuế, quyền phân phối và tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Cụ thể, chúng ta cần đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh mặt hàng này bên cạnh vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước, mở rộng biên độ điều chỉnh giá định hướng và tiến tới bỏ dần cơ chế giá bán định hướng với các mặt hàng dầu và mazút, phân loại và xác định đối tượng kinh tế - xã hội cụ thể để bù giá theo chủng loại xăng dầu thay vì bù tổng thể như hiện nay.
Về phía mình, các công ty kinh doanh xăng dầu cần nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức mới tinh gọn và hiện đại nhằm tăng cường tính tự chủ, động lực và thiết lập chế độ trách nhiệm của bộ máy quản lý, người lao động một cách rõ ràng để các doanh nghiệp có thể ổn định và phát triển trong quá trình hội nhập. Tối ưu hoá, hợp lý hóa sản xuất gắn với tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nói chung và vốn đầu tư nói riêng.
Bên cạnh đó, các công ty xăng dầu đầu mối cần tăng cường phối hợp, cạnh tranh lành mạnh với việc phân định thị trường phù hợp để giảm thiểu cạnh tranh tiêu cực trong nội bộ dẫn đến phân rã thị trường làm suy yếu và lãng phí nguồn lực quốc gia".
Điều tiết giá theo quy luật thị trường
(TSKH. Nguyễn Thị Hiền, Ban nghiên cứu của Thủ tướng)
"Mặc dù Pháp lệnh giá đã quy định việc tôn trọng nguyên tắc thị trường và quyền định giá của doanh nghiệp song trong thực tiễn điều này vẫn chưa được thông suốt. Mỗi khi có biến động bất thường, chúng ta thường áp đặt kiểm soát hành chính hơn là tìm các giải pháp có tính thị trường để xử lý vấn đề.
Chẳng hạn như chủ trương áp đặt lệnh cấm nâng giá một số vật tư và kiềm giữ lãi suất ngân hàng trong cả năm 2004 với lý do chống lạm phát đã làm méo mó thị trường nội địa, khiến thị trường Việt Nam bị ngăn cách với biến động giá trên thị trường thế giới.
Việc xăng dầu bị buôn lậu qua biên giới không thể ngăn cản được chính là hệ quả của việc "ép giá", kết quả là Nhà nước thất thu thuế, doanh nghiệp bị lỗ trong khi người tiêu dùng không được lợi bao nhiêu do mức giá chung vẫn bị đội lên một cách khách quan do vận động theo quy luật tất yếu của thị trường.
Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới chính sách giá cả trong nước nằm ở chế độ tiền lương. Do chậm xử lý những bất hợp lý của chế độ tiền lương (như không tách bảng lương hành chính với các bảng lương của khu vực khác, biên chế cồng kềnh, kém hiệu quả, bao cấp về lương cho các tổ chức phi hành chính quá lớn...) nên mức lương hành chính quá thấp đã tạo nên sự so sánh hết sức khập khiễng mỗi khi phải điều chỉnh giá hàng hóa theo mặt bằng giá khu vực và thế giới. Sự khập khiễng thể hiện ở chỗ đem mặt bằng giá trong nước bị kiểm soát theo ý muốn chủ quan so sánh với giá khu vực và thế giới biến động theo cung cầu một cách khách quan.
Để vượt qua được cơn khủng hoảng về giá, đặc biệt là giá xăng dầu, chúng ta cần sự nỗ lực từ cả ba phía. Nhà nước cần thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô như cải cách tiền lương trên cơ sở giá tiêu thụ biến động theo quy luật thị trường, đề ra chiến lược thay thế xăng dầu trong công nghệ và lập lại cân đối năng lượng quốc gia nói chung nhằm mục tiêu giảm tiêu dùng năng lượng như những nước công nghiệp phát triển đã thực hiện sau cuộc khủng hoảng giá dầu những năm 1970.
Trong khi đó, doanh nghiệp cần triệt để tiết kiệm năng lượng và tích cực đầu tư cho áp dụng công nghệ sử dụng ít năng lượng từ dầu; còn người dân cũng cần có ý thức tham gia vào chủ trương tiết kiệm xăng dầu của đất nước.
Thời điểm Việt Nam hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới đang đến gần, việc điều tiết biến động giá cả thị trường cần được thực hiện chủ yếu bằng biện pháp can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô được phối hợp đồng bộ, phù hợp cam kết mở cửa thị trường khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới".
Thắt chặt tài chính và tự do hóa thương mại
(TS. Nguyễn Văn Lịch, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại)
"Xu hướng tăng giá hàng hóa trên thị trường thế giới đã, đang và sẽ gây tác động đến giá cả thị trường trong nước và tạo ra sức ép với lạm phát của nền kinh tế. Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8,5% trong năm 2005 sẽ gây ra tác động cộng hưởng làm tăng sức ép lên lạm phát ở mức cao hơn.
Các biện pháp chủ yếu mà nền kinh tế cần sử dụng trước sự tăng giá hàng hóa nhập khẩu từ thị trường thế giới trước hết là phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái một cách thận trọng. Trong điều kiện cán cân thương mại nước ta hiện nay, yêu cầu thu hút nhiều hơn sản lượng hàng hóa trong nước dành cho xuất khẩu để tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu là một trong những hướng ưu tiên của chính sách tỷ giá.
Tuy nhiên, nếu điều chỉnh tỷ giá có lợi cho xuất khẩu thì sẽ bất lợi cho nhập khẩu và nếu hạn chế bất lợi của tỷ giá đối với nhập khẩu bằng các biện pháp tài chính như bù lỗ cho các mặt hàng nhập khẩu, giảm thuế trong nước... thì lại gây áp lực đến lạm phát.
Hơn nữa, trong điều kiện giá thị trường thế giới ở mức cao, việc điều chỉnh chính sách tỷ giá có lợi nhiều hơn cho xuất khẩu cũng không thực sự cần thiết. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt bám sát cung cầu về ngoại tệ trên thị trường, đảm bảo tỷ giá danh nghĩa bám sát tỷ giá thực, không để xảy ra các cú sốc đột biến, tiếp tục phát triển các công cụ phòng chống rủi ro trên thị trường ngoại hối, phối hợp việc điều hành tỷ giá và điều hành lãi suất nhằm đảm bảo mối quan hệ hợp lý...
Ngoài ra, với cơ cấu hàng hóa nhập của Việt Nam hiện nay, xu hướng tăng giá hàng hóa trên thị trường thế giới đã gây bất lợi lớn cho nhập khẩu và hầu hết các ngành sản xuất trong nước. Điều này làm nảy sinh yêu cầu có những khoản tài chính để bù lỗ hoặc hỗ trợ cho các nhà nhập khẩu, các ngành sản xuất trong nước như trường hợp bù lỗ cho xăng dầu và cho các dự án xây dựng trọng điểm quốc gia trong năm 2004.
Do đó, nếu Nhà nước không có biện pháp thắt chặt tài chính, hạn chế những khoản chi cho bù lỗ thì sẽ làm tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và gây sức ép lên lạm phát của nền kinh tế.
Thực tế, trong năm 2004, khi giá các mặt hàng sắt thép trên thị trường thế giới lên cao, Nhà nước đã thực hiện chính sách giảm thuế nhập khẩu và qua đó góp phần ổn định giá tại thị trường trong nước. Có thể nói rằng, các biện pháp tự do hóa thương mại cũng có tác dụng hỗ trợ trong việc thực hiện biện pháp thắt chặt tài chính và hơn nữa, trong tiến trình gia nhập WTO, các biện pháp tự do hóa thương mại là hợp lý".
TBKTVN










