Nghịch lý tín dụng xanh: Khi lãi suất ưu đãi không bù nổi chi phí xác nhận
Tại Việt Nam, nhu cầu vốn cho lĩnh vực năng lượng tái tạo hiện đã lên tới cả tỷ USD trong ngắn hạn[1]. Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều ngân hàng đã tung ra các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi. Nhưng để tiếp cận được lãi suất ưu đãi, doanh nghiệp phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn khắt khe về khung xanh, hệ thống giám sát, báo cáo định kỳ và chi phí thẩm định độc lập. Cộng dồn các khoản này, tổng chi phí tuân thủ đôi khi khiến khoản vay ưu đãi trở nên đắt đỏ hơn cả vay thương mại thông thường.
Khi ưu đãi trên giấy không bằng chi phí thực tế
Tín dụng xanh là nguồn vốn do ngân hàng và các tổ chức tài chính cung cấp cho các dự án mang lại lợi ích cho môi trường như năng lượng tái tạo, công trình xanh, nông nghiệp phát thải thấp, xử lý chất thải...
Để khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi, tổ chức tín dụng thường đưa ra mức lãi suất ưu đãi hơn so với vay thông thường. Nhưng khác với vay thường, tổ chức tín dụng không thể chỉ nhìn báo cáo tài chính và tài sản đảm bảo rồi giải ngân. Họ cần bằng chứng độc lập rằng đồng vốn thực sự dùng cho mục đích xanh, tức không có chuyện gắn mác xanh để hưởng ưu đãi rồi lại dùng vào việc khác, hiện tượng thường gọi là tẩy xanh (greenwashing). Đây là lý do một khoản vay xanh luôn kèm một tầng thủ tục mà vay thường không có như xác nhận trước giải ngân, giám sát định kỳ suốt vòng đời khoản vay qua quy trình đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV).
Theo Tổ chức Sáng kiến Trái phiếu Khí hậu (Climate Bonds Initiative), các hình thức rà soát bên ngoài phổ biến cho khoản vay hoặc trái phiếu xanh gồm ý kiến bên thứ hai, xếp hạng trái phiếu xanh, xác minh và chứng nhận theo chuẩn mực quốc tế - những công cụ được khuyến nghị để tăng tính minh bạch cho thị trường[2]. Dù phần lớn bộ nguyên tắc quốc tế chỉ mang tính khuyến nghị, tại nhiều thị trường việc có ý kiến từ một đơn vị rà soát bên ngoài đã trở thành yêu cầu bắt buộc theo quy định pháp lý sở tại[3].
Vấn đề nằm ở chỗ ai phải chịu chi phí cho quy trình rà soát. Theo bộ tiêu chuẩn của Climate Bonds Initiative được dùng rộng rãi trên thế giới, chỉ thu một khoản phí chứng nhận rất nhỏ tương đương một phần mười điểm cơ bản, tức khoảng 0.001% giá trị gốc khoản vay[4]. Nhưng khoản phí đó chỉ là phần nổi. Phần chìm, và cũng tốn kém nhất, là chi phí thuê đơn vị thẩm định độc lập bên ngoài thực hiện rà soát, cộng chi phí nội bộ doanh nghiệp phải bỏ ra để thu thập dữ liệu, xây dựng báo cáo phát thải và duy trì hệ thống giám sát suốt thời gian vay.
Trong bất động sản công nghiệp tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp phải đạt chứng chỉ công trình xanh quốc tế và duy trì báo cáo phát thải khí nhà kính hằng năm chỉ để giữ mức chiết khấu lãi suất 0.5-2 điểm phần trăm và nếu không duy trì được, ưu đãi có thể bị thu hồi[5]. Cái giá của việc được coi là xanh vì vậy không dừng ở thời điểm ký hợp đồng, mà kéo dài suốt vòng đời khoản vay.
Ảnh minh họa.
|
Ai đang gánh chi phí này và vì sao doanh nghiệp nhỏ chịu thiệt nhiều nhất?
Gánh nặng chi phí xác nhận xanh không phân bổ đều giữa các nhóm doanh nghiệp. Báo cáo năm 2023 của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) khảo sát 57 tổ chức tài chính tại 15 thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, chỉ ra rằng hầu hết quốc gia này đã có khung phân loại xanh nhưng chưa đủ chi tiết và dữ liệu chưa đầy đủ, khiến từng tổ chức tín dụng phải tự quyết định cách đánh giá mức độ tuân thủ của khách hàng[6]. Doanh nghiệp là công ty con của tập đoàn nước ngoài hoặc đã có bộ phận ESG chuyên trách thường vượt qua vòng thẩm định dễ dàng hơn nhiều so với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), nhóm vốn không có sẵn nhân sự và dữ liệu để đáp ứng yêu cầu báo cáo.
Theo Viện Ngân hàng Phát triển châu Á, SME toàn cầu đang đối mặt với chi phí ban đầu cao, khả năng tiếp cận vốn hạn chế, yêu cầu báo cáo phức tạp và tiêu chí phân loại xanh thiếu đồng bộ giữa các thị trường[7].
Khác với doanh nghiệp lớn có thể phân bổ một khoản chi phí kiểm toán gần như cố định trên khoản vay hàng trăm triệu USD, SME với khoản vay chỉ vài tỷ đồng vẫn phải gánh mức chi phí thẩm định tuyệt đối tương tự, khiến tỷ trọng chi phí trên giá trị khoản vay cao hơn hẳn về mặt tương đối. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong báo cáo Bảng chỉ số tài trợ SME năm 2024, cũng nhận định dù nguồn cung tài chính bền vững đang mở rộng, SME vẫn khó tiếp cận vì thiếu khả năng cung cấp dữ liệu hiệu suất bền vững mà các tổ chức tài chính ngày càng đòi hỏi[8].
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2023, chỉ khoảng 13% SME nhận biết được các công cụ tài chính xanh hiện có[9], khoảng cách thông tin đã là rào cản trước cả khi doanh nghiệp kịp tính đến chi phí xác nhận. Về quy mô thị trường, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố hồi tháng 6/2026, có 82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, tổng dư nợ đạt trên 828,000 tỷ đồng, tăng gấp 4.6 lần so với năm 2017, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2017-2025 đạt trên 20%/năm[10].
NHNN cũng nhìn nhận phần lớn dòng vốn tín dụng xanh vẫn tập trung vào các dự án quy mô lớn, trong khi nhiều SME còn khó tiếp cận nguồn vốn chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội và SME tại Việt Nam đang chịu một trong những khoảng trống tín dụng lớn nhất khu vực ASEAN, ước 24 tỷ USD mỗi năm, trong đó gần 62% nhu cầu chưa được đáp ứng[11].
Làm sao để vay xanh thực sự rẻ hơn?
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ba hướng đi chính có thể giảm gánh nặng chi phí xác nhận xanh. Thứ nhất, chuẩn hóa bộ tiêu chí phân loại xanh trên phạm vi quốc gia, thay vì để từng ngân hàng tự diễn giải. IFC khuyến nghị rằng khi có bộ tiêu chí đủ chi tiết và thống nhất, ngân hàng không cần thuê thêm chuyên gia bên ngoài diễn giải quy định, doanh nghiệp cũng biết chính xác cần chuẩn bị hồ sơ gì ngay từ đầu[12], tương tự cách chuẩn xác minh theo tiêu chuẩn trái phiếu xanh của Liên minh châu Âu áp dụng chung toàn thị trường thay vì để mỗi tổ chức phát hành tự chọn đơn vị đánh giá riêng.
Tại Việt Nam, Quyết định 21/2025/QĐ-TTg, hiệu lực từ 22/08/2025, lần đầu tiên thiết lập Danh mục phân loại xanh thống nhất toàn quốc[13]. Đây là điều kiện quan trọng để giảm tình trạng mỗi ngân hàng áp một bộ tiêu chí riêng, dù quyết định hiện mới ở dạng khuyến khích áp dụng, chưa bắt buộc toàn hệ thống.
Thứ hai, san sẻ chi phí xác nhận từ ngân sách công hoặc các quỹ hỗ trợ, thay vì để một mình doanh nghiệp gánh chịu. OECD tổng hợp hơn 20 mô hình từ các nước phát triển và mới nổi, trong đó tài trợ không hoàn lại, ưu đãi thuế cho nghiên cứu phát triển và tài chính hỗn hợp kết hợp vốn Nhà nước với vốn tư nhân đã giúp SME tiếp cận công cụ kiểm toán, tư vấn mà không phải tự bỏ toàn bộ chi phí ban đầu[14].
Tại Việt Nam, mô hình gần nhất hiện có là Sổ tay Tín dụng Xanh do Viện Tăng trưởng Xanh Toàn cầu (GGGI) phối hợp Quỹ Phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa xây dựng từ năm 2019, giúp SME đặc biệt doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo chuẩn bị hồ sơ vay theo tiêu chí xanh để được ưu tiên xét duyệt. Đây là mô hình đáng nhân rộng sang các ngân hàng thương mại, thay vì chỉ giới hạn trong một quỹ công quy mô nhỏ[15].
Thứ ba, số hóa quy trình đo lường - báo cáo - thẩm định, giảm phụ thuộc vào kiểm toán thủ công tốn thời gian, đưa chi phí giám sát về gần hơn với quy mô thực tế từng khoản vay thay vì áp mức phí gần như cố định bất kể khoản vay lớn hay nhỏ, phù hợp định hướng ứng dụng công nghệ mà NHNN đã đặt ra trong đề án phát triển ngân hàng xanh.
Chiến lược phát triển ngân hàng xanh của NHNN đặt mục tiêu đưa toàn bộ tổ chức tín dụng xây dựng quy định nội bộ về đánh giá rủi ro môi trường - xã hội. Nhưng nếu chi phí xác nhận xanh vẫn đặt lên vai người vay, đặc biệt khối SME, mục tiêu mở rộng tỷ trọng tín dụng xanh khó đạt được bền vững. Bài toán không chỉ là hạ lãi suất trên giấy, mà là hạ tổng chi phí thực tế doanh nghiệp phải bỏ ra để chứng minh mình xứng đáng với ưu đãi đó.
[1] https://tapchikinhtetaichinh.vn/tin-dung-xanh-con-xa-voi-doanh-nghiep-vi-ganh-nang-chi-phi-24213.html
[2] https://www.climatebonds.net/files/content-images/Climate-Bonds_Green-Bond-Dataset-Methodology_April-2024.pdf
[3] https://asianbondsonline.adb.org/green-bonds/gbfactsheet7.html
[4] https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1044028323000674
[5] https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/tac-dong-cua-tin-dung-xanh-den-hieu-suat-ben-vung-nganh-bat-dong-san-viet-nam-trong-boi-canh-chuyen-doi-xanh-va-tai-chinh-ben-vung-162781.html
[6] https://www.ifc.org/content/dam/ifc/doc/2023/challenges-of-green-finance.pdf
[7] https://www.adb.org/sites/default/files/publication/1086736/adbi-policy-brief-sme-finance.pdf
[8] https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2024/03/financing-smes-and-entrepreneurs-2024_015c0c26/fa521246-en.pdf
[9] https://vietnamnews.vn/economy/1715934/green-finance-fuels-push-for-sustainable-growth.html
[10] https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ngan-hang-rot-828000-ty-dong-cho-tin-dung-xanh-doanh-nghiep-van-khat-von-20260623183730192.htm
[11] https://en.vietnamplus.vn/vietnams-smes-face-24-billion-usd-credit-gap-amid-green-transition-post339006.vnp
[12] https://www.ifc.org/content/dam/ifc/doc/2023/challenges-of-green-finance.pdf
[13] https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214447
[14] https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/11/scaling-up-public-financial-and-non-financial-support-for-sme-sustainability_c69f770d/bf835159-en.pdf
[15] https://gggi.org/report/green-credit-handbook-for-manufacturing-sector/
Nguyễn Nhiều Lộc










