Tin tức
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Dễ và khó

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Dễ và khó

10/03/2006

Banner PHS

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Dễ và khó

Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng, góp phần gìn giữ và phát triển những ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm...

Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng, góp phần gìn giữ và phát triển những ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm.

 

Đây cũng là trường học kinh doanh lớn nhất của phần đông các doanh nhân trước khi tiến tới quy mô kinh doanh lớn hơn.

 

Chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp hiện có trên cả nước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trong môi trường kinh tế chưa hoàn toàn thuận lợi cả tầm vĩ mô và vi mô. Trong đó gặp nhiều khó khăn về công nghệ sản xuất kinh doanh, mô hình quản lý, tiến độ, kỹ năng của đội ngũ lãnh đạo và tay nghề của người lao động, phương thức tiếp thị sản phẩm, đặc biệt là sự hạn chế về tiếp cận thông tin và dịch vụ tài chính, vốn đầu tư...

 

Theo chỉ đạo của Chính phủ, đến năm 2010, cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp về những yếu tố cần thiết giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam có thể phát triển và thành công trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

 

Ông Lý Đình Sơn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và quản lý ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn yếu

 

Để có thể thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất. Thế nhưng hầu hết công nghệ đang được sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện được đánh giá là lạc hậu. Đại đa số những người chủ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có kiến thức, thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề liên quan đến lựa chọn, mua và chuyển giao công nghệ.

 

Với nhiều người, mua công nghệ chỉ đơn giản là mua máy móc, thiết bị. Họ không quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đến các phương pháp, bí quyết sản xuất. Do ảnh hưởng của tư duy sản xuất nhỏ và một phần là do thiếu vốn, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư nhỏ giọt, làm từng phần, mỗi năm mua thêm một số máy móc, thiết bị rồi vừa làm vừa cải tiến.

 

Hậu quả của cách làm đó là công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp này trở thành mớ hỗn độn, chắp vá. Một số doanh nghiệp do thiếu thông tin, không có kinh nghiệm lựa chọn, mua bán, chuyển giao công nghệ đã trở thành nạn nhân của các thương vụ về công nghệ.

 

Công nghệ tốt giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản xuất ra được các sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và giảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh. Ngược lại công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Đồng thời làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

 

Chúng tôi đã tiến hành một cuộc nghiên cứu về vấn đề này ở các tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng cho thấy 62% doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn cho rằng họ không cần phải thay đổi công nghệ hoặc không thể đưa ra câu trả lời rằng họ có cần đổi mới công nghệ.

 

Trong số những người cho rằng cần thay đổi công nghệ, chỉ có 15% đã có hoặc có kế hoạch cụ thể cho việc thay đổi, số còn lại chưa có một ý nghĩ rõ ràng nào về việc này. Họ nói cần phải thay đổi công nghệ nhưng dường như vẫn đang chờ đợi một sự trợ giúp nào đó từ bên ngoài. Rất ít các chủ doanh nghiệp có quyết tâm thay đổi và nỗ lực trong việc tìm kiếm nguồn lực cho sự thay đổi công nghệ. Tình trạng này cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đánh giá chưa đúng tầm quan trọng của công nghệ và tính bức bách của việc đổi mới công nghệ. Các thông tin này cũng nói lên rằng để có thể thay đổi công nghệ, họ rất cần được trợ giúp cả về nhận thức, kỹ thuật và tài chính.

 

Công nghệ, năng lực sử dụng công nghệ liên quan mật thiết đến năng lực quản lý của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có khả năng quản lý tốt thường là những doanh nghiệp thường xuyên có những thay đổi (cải tiến, đổi mới) công nghệ và cần nhiều vốn.

 

Thực tiễn mấy năm qua cho thấy nhiều doanh nghiệp tư nhân có định hướng tốt đã lựa chọn được các công nghệ thích hợp. Nhờ sự lựa chọn đúng công nghệ thích hợp doanh nghiệp không chỉ phát triển được sản phẩm tốt mà có thể cải cách các hoạt động quản lý. Sự thay đổi công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành, bại của các doanh nghiệp.

 

Điều này cũng là động lực làm nảy sinh nhu cầu vay vốn và do đó thúc đẩy thị trường vốn cho các ngân hàng thương mại. Năng lực tiếp nhận, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, quản lý ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa lệ thuộc vào nhận thức, thông tin, quản lý, nhân lực và vốn của doanh nghiệp. doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần phải nhanh chóng tự mình nhận ra và thay đổi để có thể thích ứng được với bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường. Nhà nước và các tổ chức của doanh nghiệp được sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế cũng cần dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhiều sự hỗ trợ hơn và hỗ trợ có hiệu quả hơn.

 

Ông Nguyễn Kim Anh, Chủ nhiệm khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng)
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam khó tiếp cận dịch vụ ngân hàng

 

Có thể nói hầu hết các dịch vụ ngân hàng (huy động vốn, dịch vụ cho vay, đầu tư, thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính, tư vấn, quản lý tài sản...) đã đến với cộng đồng các doanh nghiệp. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất, bức xúc nhất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay vẫn là thiếu vốn bởi năng lực vốn nội tại của các doanh nghiệp này hạn chế trong khi tiếp cận vốn ngân hàng còn gặp rất nhiều rào cản.

 

Vậy để nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, trước hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải chủ động tìm hiểu, nghiên cứu kỹ để nắm và hiểu rõ tính năng, tiện ích của các sản phẩm dịch vụ cũng như cách thức tiếp cận và sử dụng các dịch vụ mà các ngân hàng cung ứng.

 

Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến việc tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn rất hạn chế xuất phát từ chính bản thân các doanh nghiệp nhỏ và vừa. doanh nghiệp không hiểu về cơ chế tín dụng của ngân hàng thương mại, có tâm lý sợ thủ tục vay vốn của ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giải quyết cho vay của ngân hàng khó khăn. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiết lập thủ tục vay vốn của ngân hàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu.

 

Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty TNHH, tài sản pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của khách hàng. Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ, chính xác và thiếu minh bạch.

 

Năng lực tài chính nội tại của doanh nghiệp yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu của ngân hàng, không xác định rõ ràng được dòng tiền lưu chuyển bởi vậy không tính toán được đúng khả năng trả nợ trong tương lai. Một số lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa lập phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần tuý.

 

Nội dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi được thiết lập sơ sài, bởi vậy thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm định cho vay.

 

Ở một số doanh nghiệp, việc điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo thiếu bài bản, mang nặng tính gia đình. Trong quan hệ với ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm, việc bố trí cán bộ quan hệ giao dịch với ngân hàng không hợp lý, cán bộ có tư tưởng e ngại, thiếu tự tin trong quan hệ, khả năng thuyết trình, đàm phán với ngân hàng. Đây chính là những vấn đề mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần lưu tâm và khắc phục, nếu khắc phục tốt những điểm hạn chế này thì chắc chắn vay vốn ngân hàng dễ dàng hơn nhiều.

 

Về phía Nhà nước và các chính quyền địa phương cũng phải có chính sách rất cụ thể và thiết thực để hỗ trợ mặt bằng sản xuất ổn định, lâu dài cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các cơ quan chức năng của Nhà nước cần có các hành động cụ thể hơn nữa trong việc hỗ trợ thông tin về cơ chế, chính sách chế độ, thông tin về thị trường giá cả, về công nghệ, kỹ thuật cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong hoạt động cung cấp thông tin, marketing làm cầu nối cho doanh nghiệp với thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt là trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Các ngân hàng cần đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường và nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, cải tiến thủ tục cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn, tiếp tục cải tiến quy trình cho vay nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay. Đồng thời cần đa dạng hoá hơn nữa các hình thức bảo đảm tín dụng để thích ứng với đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp tục nghiên cứu và triển khai mạnh việc phát triển và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng mới như dịch vụ tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ sản phẩm bảo hiểm, uỷ thác...

 

Cùng với đó là chú trọng tới hoạt động marketing, quảng bá sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến quảng đại công chúng cũng như tới cộng đồng các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Bà Trịnh Thị Hoa Mai, khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Liên kết đào tạo giữa các trường Đại học với doanh nghiệp nhỏ và vừa

 

Một trong những khó khăn hiện nay mà nhiều doanh nghiệp gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể nói trình độ học vấn của cả người lao động và của chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất thấp.

 

Trong số hơn 25% lao động có chuyên môn thì chỉ 6% lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Chủ doanh nghiệp có trình độ Đại học cũng chỉ khoảng 2%. Về cơ bản, đội ngũ này mới được hình thành những năm 90, còn thiếu kinh nghiệm nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường. Quy mô nhỏ lại luôn khó khăn về vốn nên hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ kinh phí để đầu tư, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.

 

Đây là một lực cản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp và cần phải quyết tâm vượt qua vì sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập hiện nay.

 

Trước hết phải khẳng định rằng các trường Đại học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho doanh nghiệp. Song, sự liên kết giữa các cơ sơ đào tạo Đại học với doanh nghiệp không mang tính hỗ trợ từ phía này đối với phía kia mà hoàn toàn đem lại lợi ích cho cả hai vì sự sống còn và phát triển bền vững của cả hai. Hoạt động trong cơ chế thị trường, các cơ sở đào tạo phải tuân thủ một nguyên tắc chung là sản phẩm đào tạo của nhà trường phải đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động rất đa dạng và đầy biến động.

 

Phép thử cho việc tuân thủ nguyên tắc đó chính là sự tiếp nhận của thị trường đối với những sinh viên tốt nghiệp (tất nhiên nhu cầu chủ thị trường không chỉ được xem xét trong ngắn hạn, mà còn gắn liền với chiến lược phát triển của dài hạn nền kinh tế). Rõ ràng, không thể đánh giá một cơ sở đào tạo là vững mạnh, có triển vọng, khi mà số lượng sinh viên tốt nghiệp của nhà trường vẫn thất nghiệp ngày càng nhiều.

 

Để có thể cung ứng cho thị trường lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng, nhà trường cần phải nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp nói riêng, của nền kinh tế nói chung. Chính ở đây, các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu lao động mà thị trường cần. Do vậy, vì lợi ích của chính mình, các trường Đại học luôn có nhu cầu phải gắn kết với doanh nghiệp.

 

Về phía các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiếu vốn đã làm họ không thể chủ động giải quyết nguồn nhân lực cho chính mình, ngay cả với những chủ doanh nghiệp có tầm nhìn chiến lược về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Con đường chung mà các doanh nghiệp vẫn thực hiện là tìm lao động qua các Hội chợ việc làm.

 

Thực tế qua các Hội chợ việc làm được tổ chức gần đây cho thấy, mặc dù được tuyển chọn lao động trong điều kiện thị trường đầy ắp các cử nhân đang khát khao tìm việc, thì các doanh nghiệp cũng không phải dễ dàng tìm được những lao động phù hợp cho mình và nếu có tuyển dụng được thì cũng còn phải bỏ thời gian, kinh phí để đào tạo lại cho phù hợp với yêu cầu chuyên môn của doanh nghiệp.

 

Trong điều kiện đó, có cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp là điều lý tưởng nhất. Chính vì vậy, được hợp tác với một cơ sở đào tạo Đại học thực sự cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp. Như vậy, liên kết đào tạo giữa nhà trường Đại học và doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp.

 

Vậy tại sao trong thực tế cho đến nay mối liên kết này vẫn chưa được tạo ra? Theo tôi, rào cản chủ yếu là vấn đề tư duy của chính các nhà quản lý các cơ sở đào tạo, nhất là các cơ sở đào tạo công lập. Điều này thể hiện ở: các cơ sở đào tạo thường không quan tâm nhiều đến thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp của trường có tìm được việc làm không, việc làm đó có đúng với chuyên môn được đào tạo không dường như không phải là trách nhiệm của nhà trường.

 

Chỉ khi nào sự tồn tại và lớn mạnh của các cơ sở đào tạo thực sự phụ thuộc vào việc tiếp nhận của thị trường lao động, trong đó có các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối với sản phẩm mà họ cung ứng thì mới nảy sinh và nuôi dưỡng một nhận thức đúng đắn rằng cơ sở đào tạo phải gắn với doanh nghiệp.

 

TS. Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (VCCI)
Tầm quan trọng của tâm lý xó hội đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

 

Có thể khẳng định trong 5 năm gần đây tâm lý xã hội đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ đối với sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là sau khi thực hiện luật doanh nghiệp (2000), ý chí kinh doanh của người Việt đã được khơi thông.

 

Một trong những phát hiện của cuộc Điều tra Giá trị thế giới được tiến hành trên 65 quốc gia  năm 2001 đã đưa ra kết luận gây không ít ngạc nhiên: người Việt Nam thậm chí còn có ý chí kinh doanh cao hơn cả người Hoa (thể hiện qua mức độ tán đồng đối với sở hữu doanh nghiệp tư nhân so với sở hữu Nhà nước). Tuy nhiên khi nói đến ý chí kinh doanh cần phải nhấn mạnh các khía cạnh sau của vấn đề:

 

Một là: định nghĩa về ý chí kinh doanh được vận dụng ở Việt Nam theo hai nghĩa cơ bản:

Nghĩa thứ nhất có thể diễn giải bằng câu hỏi “có bao nhiêu người thực sự muốn khởi sự doanh nghiệp ở Việt Nam?”. Câu trả lời  là con số 2,9 triệu hộ kinh doanh cá thể và trên 200.000 doanh nghiệp tư nhân có đăng ký chính thức. Trung bình, cứ 27 người dân Việt Nam có một người muốn khởi sự doanh nghiệp.

 

Nghĩa thứ hai của “ý chí kinh doanh” đặt ra vấn đề quan trọng hơn, đó là: ngoài vấn đề gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký chính thức còn đặt ra vấn đề các doanh nghiệp phi chính thức và bán chính thức chuyển sang khu vực chính thức.

 

Giải quyết vấn đề này có thể sẽ làm sáng tỏ được một phần các lý do tại sao vẫn còn đến 2,9 triệu doanh nghiệp vẫn đang hoạt động duới hình thức hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ.

 

Trên cơ sở định nghĩa trên, thực tế cho thấy các doanh nhân  Việt Nam vẫn chưa có quan điểm về kế hoạch mở rộng kinh doanh một cách có hệ thống. Hơn thế nữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần nhận thức rằng linh hồn của cơ chế thị trường chính là sức sáng tạo, năng động của doanh nghiệp.

 

Hai là: Thái độ thân thiện của các cơ quan chính quyền đối với doanh nghiệp được thể hiện qua cách ứng xử, tinh thần phục vụ, hỗ trợ doanh nghiệp với vai trò là người đóng thuế, nuôi bộ máy công quyền. Bức tranh chung cho thấy các doanh nghiệp đã bắt đầu đánh giá cao thái độ thân thiện của các cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng các vấn đề sau đăng ký kinh doanh vẫn còn nhiều bất cập ở một số địa phương.

 

Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều gắn hoạt động của mình với các địa phương, nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên các địa phương của cả nước đều nhận được sự hậu thuẫn như nhau.

 

Ba là: Thái độ của các phương tiện truyền thông đã đóng góp tích cực cho sự chuyển biến thái độ, tâm lý xã hội nói chung. Tuy nhiên, việc tuyên truyền ý chí kinh doanh vẫn còn tập trung nặng vào phản ánh những hiện tượng tiêu cực, chưa nêu bật lên được vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các gương điển hình tốt được tuyên truyền thường tập trung vào các doanh nghiệp lớn.

 

Các ví dụ thất bại ít được nêu để làm bài học và thường được quy lỗi ở bản thân doanh nghiệp chứ không phải do sự quản lý yếu kém của các cơ quan Nhà nước và sự cạnh tranh gay gắt của thị trường. Chính thái độ này của các phương tiện truyền thông đã làm hạn chế việc chuyển giao kinh nghiệm, nhất là giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau (vì kinh nghiệm thành công của doanh nghiệp lớn thì rất khó áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ).

 

Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được VCCI triển khai ngay từ năm 1993) và đánh dấu rõ nhất bằng quyết định  thành lập Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEPC). Các hoạt động của VCCI  tập trung tham mưu cho Đảng và Nhà nước về cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, trong đó có các chính sách quan trọng như Luật doanh nghiệp, Nghị định 90 về Chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;  Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa...

 

Ngoài ra VCCI đã tiến hành hàng loạt các hoạt động  xúc tiến, cung cấp các dịch vụ đào tạo, tư vấn, cung cấp thông tin, phát triển thị trường, tiếp cận nguồn vốn. Hàng năm  VCCI  đã tổ chức hàng trăm khoá đào tạo ngắn hạn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó phải kể đến “ Chương trình khởi sự và tăng cường khả năng kinh doanh (SIYB).

 

Hiện tại rất nhiều mô hình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được VCCI  tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam, như: Xây dựng thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh; Xúc tiến phát triển thầu phụ công nghiệp ; Mô hình hợp tác chính quyền và doanh nghiệp; Mô hình vườn ươm doanh nghiệp ở Việt nam ; Quỹ đầu tư mạo hiểm;  Các biện pháp tổng thể nhằm xoá đói giảm nghèo thông qua phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa...

 

Trong giai đoạn tới, khi Việt Nam gia nhập WTO, hàng loạt vấn đề trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được đặt ra. Trong chiến lược phát triển doanh nghiệp nói chung  doanh nghiệp nhỏ và vừa phải được coi là đối tượng được quan tâm hàng đầu, bởi nó liên quan đến hàng triệu việc làm và sự linh hoạt của nền kinh tế. VCCI tin tưởng sẽ nhận được sự hậu thuẫn xứng đáng của Đảng và Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện chiến lược này.

 

Ông Nông Văn Sơn, Giám đốc công ty giấy Nam Sơn
Phát huy sức mạnh liên kết giữa ba nhà

 

Tính đến thời điểm này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực sự đang đứng trước những khó khăn, khi mà thiết bị và công nghệ sản xuất đang dần trở nên lạc hậu, những ưu đãi về thuế và những chính sách khác đang bị cắt giảm dần. Sức ép đầu vào như giá nhiên, nguyên, vật liệu... liên tục gia tăng, trong khi giá sản phẩm đầu ra chưa thể điều chỉnh tăng theo tỉ lệ.

 

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn cần mẫn và lầm lũi bước đi trong sự tính toán kiểu “vướng đâu giải quyết đó”, cố sức giải quyết những rắc rối của nhiều bài toán nhỏ mà đã bỏ mất bài toán lớn, bài toán về tầm nhìn, về tổ chức quản lý, về yếu quyết phát triển uy tín và làm chủ kỹ thuật công nghệ.

 

doanh nghiệp nhỏ và vừa đang bơi giữa đại dương mênh mông của những quyền lợi đan xen và đối chọi nếu không tỉnh táo xác định được tâm điểm, doanh nghiệp rất dễ bị ảo tưởng bởi những lợi ích trước mắt chi phối mà không thấy hết hệ luỵ lâu dài sẽ phải “thanh toán” trong tương lai.

 

Không thể khác, bởi chúng ta đang tồn tại và tìm cách phát triển trong một “xã hội hàng hóa” nên tất cả đều phải được quản lý và điều hành bằng kinh tế học. Đã đến lúc câu chuyện ba nhà phải được nhìn nhận bằng tư duy kinh tế học để phát huy sức mạnh bởi vai trò bản chất của nó trong tiến trình hội nhập và phát triển, đó là Nhà nư¬ớc, nhà doanh nghiệp và nhà tư vấn khoa học phải là một hệ thống thống nhất của sự phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hoá và không thể đảo ngược.

 

Vòng xoáy khép kín: Nhà nước - Luật pháp - Doanh nghiệp và khoa học - của cải vật chất - Nhà nước đã được khẳng định là huyết mạch của sự phát triển. Chúng ta chỉ có thể mau chóng giành chiến thắng và trở thành hùng mạnh khi nhân dân ta làm ra được nhiều của cải vật chất. Đường khép kín đã chỉ ra trọng trách lớn lao của nhà khoa học và nhà doanh nghiệp mà sức bật chính là nền tảng pháp luật do Nhà nước đặt ra. Để dân giàu, nước mạnh, kinh tế phồn thịnh, có nhiều của cải vật chất, Nhà nước cần có hành lang pháp lý thông minh để kích hoạt các doanh nghiệp tự phát triển sản xuất kinh doanh.

 

Doanh nghiệp phát triển, nguồn thu từ thuế phát triển theo, đời sống công chức tăng trưởng, lạm phát nhờ đó sẽ hạn chế và được điều tiết. Pháp lý thông minh bên cạnh việc kích họat các nhân tố tích cực cũng sẽ hạn chế được những mầm mống tiêu cực, tham nhũng, bởi tính chất thông minh của nó là: Có muốn cũng không dám, có dám cũng không thể, để nếu xảy ra điều có thể thì cũng dần ít đi.

 

Đương nhiên các nhà doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất, ngoài hậu thuẫn của luật pháp còn phải dựa vào khoa học, kĩ thuật, hoặc tự mình đã là nhà khoa học hoặc phải dựa vào nhà khoa học để mua được những công nghệ và thiết bị hiện đại - chìa khóa của việc ngày càng làm ra nhiều của cải, vật chất hơn, và có nhiều lựa chọn hơn. Nhà khoa học cần vốn để nghiên cứu nhằm tạo ra những sản phẩm tư duy, nhà doanh nghiệp có vốn và luôn cần mua sản phẩm của trí tuệ. Nếu nhà khoa học và nhà doanh nghiệp là sản phẩm đích thực của luật pháp thì họ sinh ra là để vì nhau và cùng hóa thân.

 

Chính họ là sân chơi của nhau mà pháp luật sẽ là trọng tài để cùng phát triển. Đó cũng chính là trái ngọt của luật pháp thông minh để sự giàu có phát triển vững bền. Vậy mà cho đến hôm nay hơn 80% công trình nghiên cứu khoa học đã bị “ngủ quên trong ngăn tủ”, có phải vì hơn 10% các dự án đã được thực hiện là quá nhiều chăng?

 

Không! Bởi rất nhiều trong số chúng không phải là những sản phẩm khoa học đích thực, sản phẩm đích thực sẽ tự biết mở đường mà đi, bởi nó làm ra cơm áo gạo tiền, nó là vật chất và của cải thực sự.

 

Nhìn vào tổng thể doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta trong hơn một thập kỷ qua, bên cạnh những tồn tại, khiếm khuyết, chúng ta đã thấy sự bứt phá, dám nghĩ, dám làm của họ. Đó chính là một thuận lợi lớn có ý nghĩa quyết định trong công cuộc đổi mới toàn diện về chất trong quản lý và điều hành bằng kinh tế học, sẵn sàng đón nhận những tiến bộ để nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm trước những thách thức mới của thị trường trong nước và khu vực.

 

Thiết nghĩ để ba nhà có sức bật tổng hợp, sẽ là tâm điểm trong sự phát triển đa phương và bền vững, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần phải được trang bị thêm những kiến thức mới về kinh tế học để thay đổi về chất trong tư duy, để sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là tốc độ và sản lượng như hiện nay mà phải đạt được cả về chất để trước mắt chiếm lĩnh thị tường trong nước, tạo cơ sở và tiềm lực cho từng bước cạnh tranh với nền kinh tế khu vực trong tương lai.

TBKTVN

Banner PHS
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng