Thanh toán không dùng tiền mặt tại Trung Quốc
Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính đã thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển. Do những ưu việt của TTKHTM, đến nay, nó đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến và được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn.
Tại Trung Quốc, xu hướng trong những năm gần đây, các phương tiện TTKDTM duy trì mức tăng trưởng nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế tiền mặt. Trong năm 2009, khoảng 21.414 triệu giao dịch thanh toán đã được thực hiện bằng các phương tiện TTKDTM (tăng 16,85% so với năm 2008), với tổng giá trị giao dịch đạt 715,75 nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) (tăng 13,07% so với năm 2008).
Về khối lượng giao dịch thanh toán qua thẻ ngân hàng, giấy tờ có giá và thanh toán bằng chuyển khoản tương ứng chiếm 91,95%, 4,09% và 3,96% trong tổng số khối lượng TTKDTM; điều này chứng tỏ thẻ ngân hàng đang vượt trội hơn trong TTKDTM tại Trung Quốc. Về giá trị giao dịch, thẻ ngân hàng, giấy tờ có giá và chuyển khoản tương ứng chiếm 23,19%, 37,73% và 39,08% trong tổng giá trị TTKDTM.
Giấy tờ có giá (Bill)
Khối lượng giao dịch thanh toán bằng giấy tờ có giá truyền thống tiếp tục giảm xuống. Trong năm 2009, khối lượng giao dịch được thanh toán bằng giấy tờ có giá tại Trung Quốc là 876 triệu, giảm 0,76% với tổng giá trị đạt khoảng 270,03 nghìn tỷ NDT. Khối lượng và giá trị giao dịch của giấy tờ có giá trong tổng số TTKDTM giảm tương ứng 0,73% về khối lượng và 1,98% về giá trị giao dịch.
Trong số các hình thức thanh toán bằng giấy tờ có giá trị thì séc vẫn chiếm phần lớn và là phương tiện thanh toán phổ biến nhất trong số những giấy tờ có giá. Khối lượng và giá trị giao dịch bằng séc tương ứng chiếm 97,51% và 92,15% trong tổng số các phương tiện thanh toán bằng giấy tớ có giá.
Chuyển khoản và các công cụ thanh toán khác
Trong năm 2009, tại Trung Quốc đã có 848 triệu giao dịch thanh toán với tổng giá trị là 279,73 nghìn tỷ NDT đã được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản, ủy nhiệm thu và ủy nhiệm chi, với mức tăng so với năm 2008 tương ứng là 9,45% về số lượng giao dịch và 9,92% về giá trị giao dịch.
Thanh toán điện tử
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và Internet, hoạt động thanh toán điện tử của Trung Quốc đã duy trì đà tăng trưởng mạnh, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của thương mại điện tử. Đặc biệt, hoạt động thanh toán qua Internet phát triển rất nhanh với mức tăng đột biến về khối lượng giao dịch. Trong năm 2009, khối lượng giao dịch và giá trị thanh toán qua Internet, thanh toán qua điện thoại cố định và di động đạt 5.567 triệu giao dịch với tổng giá trị là 357,45 nghìn tỷ NDT, với mức tăng tương ứng 91,21% và 33,16% so với năm 2008, chiếm tương ứng 89,51% và 98,21% trong tổng thanh toán điển tử.
Trong tổng số khách hàng sử dụng Internet Banking, tỷ lệ khách hàng doanh nghiệp chiếm 40,5%, tỷ lệ khách hàng cá nhân tại khu vực thành thị chiếm 20,9%. Cùng với sự tăng lên về số lượng khách hàng sử dụng, sự hiểu biết và việc tiếp cận với các chức năng của Internet Banking ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tần suất sử dụng Internet Banking hàng tháng của khách hàng cá nhân tăng từ 5 lần năm 2008 lên 5,6 lần năm 2009, và khách hàng doanh nghiệp tăng từ 10,3 lần lên 11,3 lần.
Việc xử lý thanh toán qua Internet tại Trung Quốc dự kiến sẽ hiệu quả hơn sau khi hệ thống thanh toán bù trừ và thanh toán Internet Banking liên ngân hàng của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) được xây dựng, đưa vào hoạt động .
Thanh toán thẻ
Nhờ sự quan tâm và hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành, thẻ ngân hàng đã phát triển nhanh, cả về số lượng và giá trị giao dịch, vươn ra cả thị trường quốc tế. Thẻ ngân hàng đã tăng nhanh, trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc. Đến cuối năm 2009, tổng số lượng thẻ ngân hàng được phát hành đạt tới 2,066 tỷ thẻ (tăng 14,8% so với năm trước; đến tháng 10/2010 đã đạt mức 2,3 tỷ thẻ), trong đó thẻ ghi nợ là 1,88 tỷ thẻ chiếm 91%, thẻ tín dụng là 186 triệu thẻ. Khối lượng và giá trị giao dịch bằng thẻ ngân hàng năm 2009 là 19.691 triệu giao dịch và 165,99 nghìn tỷ NDT với khối lượng và giá trị giao dịch bình quân ngày là 53.948.500 giao dịch và 454.771 triệu NDT.
Đến cuối năm 2009, đã có tổng số 261 tổ chức phát hành thẻ tham gia vào mạng lưới thanh toán bù trừ thẻ liên ngân hàng (CUP), trong đó có 218 tổ chức trong nước và 43 tổ chức nước ngoài. Hiện nay, tăng trưởng phát hành thẻ ngân hàng đã chậm lại do gần tới ngưỡng, nhưng tỷ lệ thẻ tín dụng được phát hành đang tăng nhanh hơn. Các ngân hàng đang tập trung vào chất lượng và hiệu quả của thẻ, đặc biệt chất lượng của các dịch vụ thẻ, thay vì chạy theo số lượng như trước đây.
Môi trường chấp nhận thẻ ngân hàng tại Trung Quốc tiếp tục được cải thiện, tính tiện ích và tiện lợi đối với người dân đang ngày càng rõ ràng hơn. Đến cuối năm 2009, số lượng đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ, POS và ATM đạt tương ứng là 1.566.500, 2.408.300 và 214.900. Sử dụng thẻ trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh. Tốc độ tăng của việc sử dụng thẻ để chuyển tiền và tiêu dùng tăng nhanh hơn hoạt động gửi và rút tiền. Bên cạnh đó, các chức năng TTKDTM của thẻ được sử dụng nhiều hơn. Năm 2009, khối lượng và giá trị giao dịch thẻ đạt mức 19.691 triệu và 165,99 nghìn tỷ NDT; trong đó số lượng và giá trị giao dịch mua sắm bằng thẻ là 3.491 triệu và 6,86 nghìn tỉ NDT (tăng 32% và 73,8%). Số lượng và giá trị giao dịch thẻ chiếm tương ứng 91,95% và 23,19% trong tổng TTKDTM; giá trị các giao dịch thanh toán mua bán hàng hóa qua thẻ đã chiếm tới 32% tổng doanh số bán lẻ các hàng hóa tiêu dùng (không tính các giao dịch bất động sản, mua bán ô tô và giao dịch bán buôn).
Có thể nói, hiện nay tại Trung Quốc, việc sử dụng thẻ đã đi vào cuộc sống của người dân thành thị. Tuy nhiên, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn những vấn đề cần được tiếp tục xử lý.
Hiện nay, PBOC đang triển khai thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy việc sử dụng và thanh toán thẻ tại Trung Quốc, cụ thể như: Nhằm phát triển thị trường thẻ cho phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý và đối tượng sử dụng đa dạng tại Trung Quốc, PBOC đã nghiên cứu và phối hợp cùng CUP và các ngân hàng thương mại Trung Quốc phát hành nhiều sản phẩm thẻ tiện ích, tiện lợi, phù hợp và chi phí hợp lý khác nhau phục vụ các đối tượng cụ thể. Một số loại sản phẩm thẻ đáng chú ý tại Trung Quốc hiện nay, gồm có:
Thẻ công nông: Đây là sản phẩm được phát hành nhằm phục vụ cho đối tượng chủ thẻ là công nhân, nông dân đi làm việc ở các thành phố lớn, phát sinh thu nhập có nhu cầu chuyển tiền về cho gia đình. Chủ thể được cung cấp sản phẩm thẻ ghi nợ chuyên dụng, qua đó thu nhập sẽ được chuyển vào tài khoản thẻ để chi tiêu và tiết kiệm. Khi chủ thể về địa phương có thể sử dụng số tiền này mà không mất phí chuyển tiền và cũng không phải cất giữ tiền mặt, tránh bị trộm cắp. Chính phủ và PBOC hỗ trợ phát hành thẻ này cho công nhân trong các nhà máy với mức phí rất thấp.
Thẻ công vụ: Đây là loại thẻ tín dụng có hạn mức theo lương, phục vụ cán bộ, công chức chi cho hoạt động công vụ khi đi công tác địa phương, nước ngoài. Công chức nhà nước khi đi công tác có thể thực hiện chi tiêu bằng thẻ này như mua vé máy bay, chi tiêu, mua sắm công. Việc sử dụng thẻ này với mục đích minh bạch trong chi tiêu, chống tham nhũng vì tất cả các chi tiêu này đều được quản lý và giám sát cụ thể. Việc phát hành thẻ công vụ được thực hiện theo sự chấp thuận của Quốc vụ viện Trung Quốc (Chính phủ), Bộ Tài chính và PBOC phối hợp với CUP, các ngân hàng thương mại thực hiện.
Thẻ giao thông: Đây là sản phẩm có tiềm năng phát triển tốt, hoạt động có lãi, được phát hành với mục đích thanh toán và trả phí giao thông; Chính phủ hỗ trợ về tài chính đầu tư trong việc phát hành thẻ và xây dựng hệ thống chấp nhận thẻ.
Thẻ quân nhân: Năm 2009, với sự hướng dẫn và phối hợp của PBOC, 3 NHTM bao gồm Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc đã phối hợp cùng Cục Hậu cần của Quân đội Nhân dân Trung Quốc (PLA) ở Bắc Kinh, cùng phát hành thẻ dành riêng cho đối tượng quân nhân với đầy đủ chức năng nhận lương và mua sắm,...
Ngoài ra, để khuyến khích phát triển thanh toán thẻ, PBOC tổ chức, xây dựng và đưa ra quyết sách xuất phát từ tình hình kinh tế đất nước, phối hợp với ngân hàng thương mại phát hành thẻ với giá thành thích hợp, tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ ngành liên quan. Đồng thời, PBOC triển khai các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thẻ như: Để đảm bảo sự an toàn đối với hệ thống thanh toán thẻ, PBOC đã ban hành được bộ tiêu chuẩn đối với thẻ Chip trên cơ sở tham khảo tiêu chuẩn thẻ chip EMV (Chuẩn PBOC 2.0 do Cục Công nghệ tin học xây dựng), đồng thời, quy định kế hoạch chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ Chip; PBOC cũng đã phối hợp với Bộ Công an (MPS) thường xuyên họp giao ban để bàn phương hướng triển khai trong thực tế, thực hiện các chuyên án nhằm điều tra và trấn áp tội phạm liên quan tới việc làm thẻ giả và gian lận thẻ, trừng trị nghiêm khắc đối với các hoạt động gian lận thẻ; Để bảo đảm an toàn hoạt động các máy móc, thiết bị phục vụ thanh toán thẻ như ATM, POS, ... PBOC phối hợp với Bộ Công an để bảo vệ, trong đó đưa ra các quy định cụ thể như: ATM thuộc địa phương nào công an địa phương đó phối hợp với các tổ chức cung ứng ATM/POS bảo vệ. Việc lắp đặt ATM phải có ý kiến của công an địa phương về địa điểm để đảm bảo an toàn hoạt động ,vv..; Xây dựng được bộ tiêu chuẩn đối với các máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động thanh toán thẻ, có đơn vị kiểm định ATM, POS trước khi đưa vào sử dụng; Đặc biệt, PBOC cũng đã phối hợp với Bộ Công nghệ thông tin và Công nghệ (MIIT) nghiên cứu các tiêu chuẩn kinh doanh, công nghệ thống nhất đối với thanh toán di động.
Có thể nói, phát triển nhanh các phương tiện TTKDTM để góp phần giảm thấp việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch là yêu cầu bức thiết của nền kinh tế. Việc đẩy mạnh việc phát triển TTKDTM, nâng cao vai trò của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước Trung Quốc là rất quan trọng; cần thiết phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, kể cả các biện pháp hành chính bắt buộc trong quan hệ thanh toán đối với một số lĩnh vực cụ thể, nhất là trong chi tiêu ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm phát triển TTKDTM cũng như thị trường thẻ tại Trung Quốc cho thấy, nếu không có những giải pháp tích cực và biện pháp phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành có liên quan, nhất là Bộ Công an trong việc đối phó với các loại hình tội phạm thẻ thì rất khó để có thể tạo lập lòng tin, sự yên tâm của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người dân trong việc sử dụng phương tiện thanh toán này. Do đó, những kinh nghiệm trong việc phát triển hoạt động TTKDTM tại Trung Quốc là bài học cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh phát triển TTKDTM trong giai đoạn tiếp theo (2010-2015).
BT-BH (Theo PBOC và CUP)
SBV










