Thập niên sinh tụ và cái giá của một đứa trẻ
Các học giả nhân khẩu học Trung Quốc vừa cảnh báo rằng nếu không nâng mạnh trợ cấp trẻ em, tỷ suất sinh của nước này có thể sớm rơi xuống mức thấp nhất thế giới.
Lương Kiến Chương, nhà sáng lập một tập đoàn du lịch trực tuyến lớn và cũng là nhà nghiên cứu nhân khẩu học, đề xuất một gói hỗ trợ trị giá 62,000 Nhân dân tệ cho mỗi đứa trẻ, và cho rằng mức ấy có thể nâng tỷ suất sinh từ 0.96 lên 1.2 trong vài năm. Mức trợ cấp toàn quốc mà Trung Quốc mới ban hành năm ngoái là 10,800 Nhân dân tệ, tương đương khoảng 1,600 USD cho mỗi trẻ. Cơ sở của đề xuất này là những con số đã vượt qua ngưỡng có thể mô tả bằng chữ "giảm".
Năm 2025, Trung Quốc có 7.92 triệu trẻ ra đời, ít hơn 1.62 triệu so với 9.54 triệu của năm 2024. Tỷ suất sinh của Trung Quốc giảm xuống còn 5.63 trẻ trên mỗi 1,000 dân, thấp nhất trong toàn bộ chuỗi dữ liệu từ thập niên 1950. Tổng tỷ suất sinh còn 0.96, nghĩa là chưa tới một đứa trẻ trên mỗi phụ nữ trong cả đời. Dân số giảm 3.39 triệu người, xuống 1.40489 tỷ, năm thứ tư liên tiếp đi xuống.
Đằng sau mỗi con số ấy là những quyết định rất riêng tư, được cân nhắc trong các căn hộ thuê ở Thượng Hải hay Thành Đô, và không ai trong số họ nghĩ mình đang tham gia vào một xu hướng nhân khẩu học đang kéo dài nhiều thập niên của 1 quốc gia đông dân nhất thế giới.

Người thầy thuốc mà nhà vua sai đến
Hơn 25 thế kỷ trước, sau khi bại trận trước nước Ngô và chịu nhục ở Cối Kê, Việt Vương Câu Tiễn trở về với một kế hoạch mà sử sách tóm lại trong tám chữ “Thập niên sinh tụ, thập niên giáo huấn” - Mười năm để sinh sôi và tích tụ, mười năm để dạy dỗ và rèn luyện.
Đông Chu Liệt Quốc chép lại mười năm đầu ấy khá tỉ mỉ: Nhà nào sinh con trai được một hồ rượu và một con chó, sinh con gái được một hồ rượu và một con lợn. Đàn bà sắp chửa sắp đẻ đều phải trình quan, để quan cho thầy thuốc đến coi sóc, nhà nào sinh ba thì quan nuôi hộ hai đứa, sinh đôi thì quan nuôi hộ một, trong nước có ai qua đời, Câu Tiễn thân hành đi đưa đám và khóc, mỗi khi ra ngoài ông để sẵn cơm trong xe, gặp trẻ con thì cho ăn và hỏi tên họ. Suốt bảy năm, nhà nước không thu thuế của dân.
Mặc dù, đó không phải một chính sách khuyến sinh theo nghĩa hiện đại, nhưng nó đã nhắm đúng vào những khoảnh khắc một gia đình sợ hãi nhất. Sinh nở thời ấy có thể lấy đi mạng sống người mẹ, và nhà nước cử thầy thuốc tới bên giường, nuôi ba đứa cùng lúc vượt quá sức một hộ nông dân, và nhà nước nhận nuôi hai, Câu Tiễn đã làm cho việc có một đứa con bớt đáng sợ đi, rồi để người dân tự quyết định phần còn lại.
Quãng đường mà gia đình phải tự đi
Phần kinh tế khi quyết định sinh ra một đứa trẻ cần được cân nhắc kỹ, bởi nó là thực tế. Trong xã hội nông nghiệp, đứa trẻ lớn lên thành một đôi tay đỡ đần gia đình sau khoảng mười năm, quãng chờ đủ ngắn để mọi người trong nhà nhìn thấy giá trị của nó, và hỗ trợ của nhà nước rút ngắn thêm quãng chờ chứ không tạo ra mong muốn nào mới.
Cha mẹ thời Câu Tiễn không yêu con như yêu một khoản đầu tư, cũng như cha mẹ hôm nay không cân đo con mình bằng những giá trị kinh tế. Tình cảm ấy hầu như không thay đổi qua các thời đại; thứ thay đổi là độ dài quãng đường mà một gia đình phải tự mình đi trước khi có ai đó chìa tay ra. Trong nền kinh tế đô thị hiện đại, quãng đường ấy kéo dài khoảng 25 năm, ở các thành phố lớn Trung Quốc còn dài hơn, vì cuộc cạnh tranh học hành đã đẩy chi phí giáo dục ngoài trường học lên mức tầng lớp trung lưu phải cân nhắc từng năm.
Hãy làm phép tính ngân sách cho đề xuất 62,000 Nhân dân tệ. Với 7.92 triệu trẻ như năm 2025, tổng chi vào khoảng 491 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 0.35% GDP năm 2025 của Trung Quốc. Nếu số trẻ tăng một phần tư lên khoảng 9.9 triệu đúng như kỳ vọng, tổng chi lên khoảng 614 tỷ, tức chưa tới 0.44% GDP. Mức trợ cấp hiện hành 10,800 tệ chỉ tiêu tốn khoảng 86 tỷ, tức 0.06% GDP.
Con số ấy nói lên điều quan trọng nhất của toàn bộ câu chuyện. Ràng buộc ở đây không phải ngân sách. Một nền kinh tế chi được hàng nghìn tỷ Nhân dân tệ cho hạ tầng thì hoàn toàn có thể chi được 0.44% GDP cho trẻ em. Nếu đề xuất chưa được chấp nhận, lý do không nằm ở chỗ không đủ tiền.
Năm 2020, khi tổng tỷ suất sinh của Trung Quốc còn ở mức 1.3, số con mà phụ nữ nước này nói là lý tưởng đối với họ trung bình là 1.8, và khi được hỏi vì sao không sinh thêm, 58.8% trả lời rằng chi phí nuôi dạy quá cao, bỏ xa lý do tuổi tác (22.6%) hay thiếu người trông trẻ (5.4%). Kể từ đó, tỷ suất sinh thực tế còn tiếp tục rơi xuống 0.96. Những đứa trẻ không ra đời, phần lớn, không phải những đứa trẻ không được mong muốn, chúng là chênh lệch giữa gia đình mà người ta muốn có và gia đình mà người ta thấy mình đủ sức nuôi. Đây không phải câu chuyện về một thế hệ quay lưng với việc làm cha mẹ, mà về việc giá cả đã bị đẩy cao đến mức nhiều người buộc phải dừng lại trước quyết định sinh ra và nuôi dạy một đứa trẻ.
Gánh nặng lớn nhất của việc sinh con tại một nền kinh tế thu nhập trung bình cao không phải tiền mặt bỏ ra. Đó là những năm tháng mà một người, thường là người mẹ, phải rút khỏi công việc của mình, kèm nỗi lo rất cụ thể rằng khi quay lại thì chỗ đứng cũ không còn ở đó. Cái giá ấy không phải một dòng chi phí cá nhân, nó là một quãng đời. Và ở đây có một vòng lặp nghiệt ngã: Xã hội càng phát triển thì một giờ lao động của người phụ nữ càng đáng giá, chính vì đáng giá nên việc rời khỏi công việc vài năm càng đắt, dù giá sữa và giá tã có thể không thay đổi.
Điều nghiệt ngã không nằm ở chỗ phụ nữ có nhiều cơ hội hơn, mà ở chỗ xã hội vẫn chưa chịu sắp xếp lại công việc và trách nhiệm gia đình để hai điều tốt đẹp ấy thôi loại trừ nhau. Một khoản trợ cấp cố định không giải quyết được vấn đề đó.
Vậy vì sao các nhà nhân khẩu học vẫn kiên trì đề xuất tiền? Bởi tiền là công cụ duy nhất triển khai được trong một năm ngân sách, trong khi những thứ vừa kể cần nhiều thời gian hơn. Và bởi trợ cấp tiền mặt có tác dụng thật, chỉ là tác dụng ấy thiên về thời điểm hơn tổng số. Các gia đình sinh con sớm hơn vài năm so với dự định, còn số con cuối cùng thay đổi ít hơn nhiều. Với một cặp vợ chồng đang lưỡng lự, một khoản tiền đúng lúc có thể gỡ đúng nỗi lo đang ngăn cản họ. Đó không phải không có ý nghĩa, chỉ là nó không phải toàn bộ điều cần làm.
Vấn đề của Việt Nam
Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đã rơi xuống 1.91 con trên mỗi phụ nữ năm 2024, mức thấp nhất trong lịch sử thống kê, giảm từ 2.01 năm 2022 và 1.96 năm 2023. Giữa năm 2025, chính sách hai con được bãi bỏ. Điều đáng lo không phải bản thân con số 1.91, vì nhiều nước đã đi qua ngưỡng đó, mà là vị trí xảy ra nó trên biểu đồ thu nhập. GDP bình quân đầu người năm 2025 ở mức 5,026 USD, và mục tiêu cho năm 2030 là khoảng 8,500 USD. Một xã hội bước vào giai đoạn ít trẻ em ở mức thu nhập ấy sẽ phải gánh chi phí của dân số già bằng nền tảng tài sản mỏng hơn nhiều so với các nước đi trước, và phải gánh sớm hơn.
Con số 1.91 cũng nên được đọc theo chiều còn lại. Nó không mô tả một thế hệ ngại sinh con, mà mô tả những cặp vợ chồng ngoài 30 ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang trả tiền thuê nhà, đang tính xem đứa thứ hai sẽ học ở đâu và ai đón nó lúc 5h chiều. Câu hỏi chính sách vì thế không phải là thuyết phục họ muốn nhiều con hơn, mà là làm sao để điều họ muốn không nằm ngoài tầm với.
Cái giá thuộc về ai
Câu Tiễn có mười năm và một xã hội trong đó đôi bàn tay là hình thức vốn quan trọng nhất. Các nhà nước hôm nay có tiền nhưng không có mười năm, và thứ khan hiếm nhất trong xã hội của họ không còn là bàn tay mà là thời gian và sức lực của những con người đang phải làm quá nhiều việc cùng một lúc.
Nhìn lại chính sách của Câu Tiễn, điều đáng học không phải hồ rượu, mà là người thầy thuốc được cử tới bên giường sản phụ, hai đứa trẻ trong ba đứa được nhà nước nhận nuôi hộ, ông vua dừng xe giữa đường để hỏi tên một đứa bé. Chính sách hôm nay phần lớn đang làm đúng phần nhỏ nhất của chương trình ấy, phần dễ nhất, phần công bố được trong một buổi họp báo, và bỏ lại phần khó.
Cái giá của một đứa trẻ, rốt cuộc là hóa đơn mà một xã hội đưa cho những người sẵn lòng sinh ra và nuôi lớn nó. Độ dày của tờ hóa đơn ấy không phải một quy luật tự nhiên. Nó là kết quả của rất nhiều sự lựa chọn đã được tạo ra, và vì thế nó là thứ có thể chọn lại.
LH










