Thu nhập từ lãi và dịch vụ tăng tốc, dự phòng rủi ro tạo áp lực lên lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026
Bức tranh kinh doanh của các ngân hàng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2026, dù tốc độ đã có sự phân hóa rõ nét. Dù động lực chính đến từ thu nhập lãi thuần, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng tiếp tục ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của toàn ngành.
Thu nhập lãi thuần làm động lực tăng trưởng chính
Nguồn: VietstockFinance
|
Thu nhập lãi thuần tiếp tục là nguồn đóng góp lớn nhất vào kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2026. Theo thống kê từ VietstockFinance, tổng thu nhập lãi thuần của 27 ngân hàng đạt 315,077 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.
Xét về quy mô, nhóm ngân hàng quốc doanh và một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn tiếp tục chiếm ưu thế. VietinBank (CTG) dẫn đầu với 40,116 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, theo sau là Vietcombank (VCB) với 36,793 tỷ đồng, VPBank (VPB, 34,934 tỷ đồng), BIDV (BID, 33,538 tỷ đồng) và MB (MBB, 31,807 tỷ đồng). Đây cũng là nhóm ngân hàng đóng góp phần lớn vào tổng thu nhập lãi thuần của toàn ngành
Về tốc độ tăng trưởng, BVBank (BVB) và NCB (NVB) là 2 ngân hàng ghi nhận mức tăng cao nhất, lần lượt đạt 46% và 45%. Theo sau là MB và VCB cùng tăng 32%, VPB tăng 30%, trong khi Bac A Bank (BAB), CTG và Vietbank (VBB) cùng tăng khoảng 28%. Ở chiều ngược lại, Saigonbank (SGB) giảm mạnh nhất -18%.
Dù các ngân hàng đang định hướng giảm phụ thuộc vào tín dụng, ở nửa đầu năm, thu nhập lãi thuần lại là động lực chính trong tăng trưởng. Ông Bùi Văn Huy - Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu Đầu tư tại CTCP FIDT khẳng định trường hợp này không mâu thuẫn.
Việc các ngân hàng muốn giảm phụ thuộc vào tín dụng là một định hướng dài hạn về cơ cấu nguồn thu, không có nghĩa thu nhập lãi thuần sẽ nhanh chóng mất vai trò chủ đạo. Với đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, tín dụng vẫn là tài sản sinh lời lớn nhất và thu nhập lãi thuần (NII) vẫn là nguồn thu có quy mô lớn, ổn định hơn so với phí dịch vụ, bancassurance, kinh doanh ngoại hối hay chứng khoán.
Điều này càng rõ trong 6 tháng đầu năm 2026 khi tín dụng tăng nhanh. Trong nhóm 11 ngân hàng lớn, tăng trưởng tín dụng bình quân đạt khoảng 9.1% so với đầu năm, nhưng mức độ phân hóa khá lớn: VPB tăng 23.2%, HDB tăng 21.8%, TCB tăng 15.2% và MB tăng 13.2%. Khi quy mô dư nợ mở rộng nhanh, chỉ cần NIM duy trì hoặc phục hồi nhẹ thì phần tăng tuyệt đối của NII đã rất lớn.
“Tuy nhiên, nói ngân hàng vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng cũng chưa phản ánh đầy đủ. Trong quý 2/2026, thu nhập ngoài lãi tăng 19.3% so với cùng kỳ và 33% so với quý trước, riêng thu nhập phí tăng 54.3%. Như vậy, các nguồn thu ngoài lãi vẫn đang mở rộng, chỉ là xuất phát từ nền quy mô nhỏ hơn nên chưa thể thay thế vai trò của NII trong một giai đoạn tín dụng tăng mạnh”, ông Bùi Văn Huy phân tích.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi - cho rằng, “giảm phụ thuộc vào tín dụng” cần được hiểu là các ngân hàng đang từng bước đa dạng hóa mô hình kinh doanh và nguồn thu, chứ không có nghĩa tín dụng sẽ nhanh chóng mất vị trí là nguồn tạo lợi nhuận chủ yếu. Trong nhiều năm, tín dụng vẫn là hoạt động cốt lõi của ngân hàng thương mại. Vì vậy, khi dư nợ tiếp tục tăng, thu nhập lãi thuần vẫn có thể tăng mạnh và đóng góp đáng kể vào lợi nhuận. Trong khi đó, các nguồn thu ngoài lãi như thanh toán, ngân hàng số, dịch vụ tài chính, ngoại hối, quản lý tài sản, bảo hiểm hay ngân hàng đầu tư đang được đẩy mạnh, nhưng để những nguồn thu này đủ lớn để thay đổi căn bản cơ cấu lợi nhuận của toàn hệ thống sẽ cần có thời gian.
Theo ông Huy, các ngân hàng đang tạo thêm nhiều “động cơ” mới, nhưng động cơ tín dụng vẫn đang giữ vai trò chính tạo ra lực kéo cho lợi nhuận. Điều này cũng lý giải vì sao lợi nhuận 6 tháng đầu năm vẫn tăng tốt nhờ thu nhập lãi thuần, dù định hướng dài hạn của ngành ngân hàng là giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng.
Cùng chung quan điểm cảnh báo rủi ro, NCS.ThS. Nguyễn Thái Bình - Giảng viên, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) cho rằng, “giảm phụ thuộc tín dụng” cần được hiểu thận trọng. Các ngân hàng có thể đang giảm cho vay một số phân khúc bán lẻ, đồng thời tăng tài trợ doanh nghiệp, dự án lớn hoặc khách hàng có chất lượng tín dụng tốt hơn. Nói cách khác, có thể ngân hàng đang đa dạng hóa tín dụng, chưa phải giảm vai trò của tín dụng trong mô hình lợi nhuận. Vì vậy, cần xem xét kỹ dòng vốn đang được phân bổ vào đâu và ai là đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ tín dụng?
Số liệu công bố cho thấy, trong tháng 6/2026, lãi suất cho vay VND bình quân đối với doanh nghiệp là 7.24%/năm, cao hơn mức 6.42%/năm đối với cá nhân. Tại một số ngân hàng khác, lãi suất cho vay bình quân đã vượt 10%/năm. Khi dư nợ tín dụng vẫn tăng, đồng thời mặt bằng lãi suất cho vay được duy trì ở mức cao, thu nhập lãi thuần có điều kiện mở rộng. Do đó, lợi nhuận trước thuế tăng mạnh không phản ánh sự chuyển đổi căn bản sang mô hình ngân hàng ít phụ thuộc tín dụng.
Hoạt động dịch vụ tăng trưởng tích cực nhưng phân hóa mạnh
Bên cạnh thu nhập lãi thuần, hoạt động dịch vụ tiếp tục đóng góp tích cực vào cơ cấu thu nhập của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2026. Theo BCTC hợp nhất của 27 ngân hàng, tổng lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 49,248 tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng mở rộng nguồn thu ngoài lãi tại nhiều nhà băng.
Xét về quy mô, TCB dẫn đầu với 6,811 tỷ đồng lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, theo sau là VPB với 5,555 tỷ đồng, CTG đạt 4,116 tỷ đồng, Sacombank (STB) đạt 3,952 tỷ đồng, SHB đạt 3,825 tỷ đồng, BID đạt 3,585 tỷ đồng, MB đạt 3,514 tỷ đồng và VIB đạt 3,064 tỷ đồng.
Về tốc độ tăng trưởng, ABB là ngân hàng nổi bật nhất khi lãi thuần từ hoạt động dịch vụ gấp 57 lần so với cùng kỳ - từ 22 tỷ đồng lên 1,263 tỷ đồng. Tiếp theo là VIB và SHB cùng gấp gần 4 lần, STB gấp gần 2.4 lần, VPB và PGBank (PGB) cùng gấp hơn 2 lần. Ngoài ra, NCB tăng 84%, TCB tăng 73%, NAB và VAB cùng tăng 61%...
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận lãi thuần dịch vụ suy giảm so với cùng kỳ năm trước như: KLB, BVB, BAB, SGB…
Mảng chứng khoán và ngoại hối suy giảm
Hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh kém khả quan trong 6 tháng đầu năm 2026 khi lãi thuần của 16/27 ngân hàng chỉ đạt 1,081 tỷ đồng, giảm 61% so với cùng kỳ. Một số ngân hàng vẫn ghi nhận lãi tích cực từ khoản mục này như: VPB dẫn đầu với 278 tỷ đồng, theo sau là MB (250 tỷ đồng), ACB (227 tỷ đồng) và SSB (225 tỷ đồng).
Không còn là điểm sáng như cùng kỳ năm trước, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng cũng kém khả quan trong nửa đầu năm 2026. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối của 27 ngân hàng đạt 10,754 tỷ đồng, giảm 27% so với mức 14,645 tỷ đồng ở cùng kỳ năm 2025. VCB tiếp tục là ngân hàng có nguồn thu ngoại hối lớn nhất hệ thống với 3,832 tỷ đồng, theo sau là CTG đạt 2,010 tỷ đồng và BID đạt 1,817 tỷ đồng. Nhóm tiếp theo gồm ACB (776 tỷ đồng), HDB (724 tỷ đồng), STB (689 tỷ đồng).
Nguồn: VietstockFinance
|
Chi phí dự phòng tăng mạnh tiếp tục kìm hãm đà tăng lợi nhuận
Dù lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng vẫn tăng trưởng, áp lực trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến kết quả cuối cùng. Tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của 27 ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 287,971 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tổng chi phí dự phòng của 27 ngân hàng ghi nhận đến 82,798 tỷ đồng - tăng 22% so với cùng kỳ. Một số ngân hàng có mức tăng dự phòng mạnh như: BAB (gấp 3.8 lần, 514 tỷ đồng), VIB, EIB và LPB đều gấp 2.4 lần so với cùng kỳ, NVB gấp 2.3 lần - lên 396 tỷ đồng, VCB (+92%, 2,996 tỷ đồng), ACB (+60%, 1,746 tỷ đồng, OCB (+38%, 1,394 tỷ đồng) và ABB (+28%, 1,107 tỷ đồng).
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng giảm chi phí dự phòng hoặc được hoàn nhập như: NAB được hoàn nhập dự phòng 95 tỷ đồng, VBB (-59%), KLB (-34%), HDB (-30%), PGBvà TCB cùng giảm 25%.
Mặc dù vậy, sau khi trừ chi phí dự phòng, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng vẫn đạt 205,171 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ.
VCB tiếp tục dẫn đầu với 29,222 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, theo sau là CTG (25,868 tỷ đồng), MB (20,188 tỷ đồng), BID (18,905 tỷ đồng), VPB (18,880 tỷ đồng) và TCB (18,540 tỷ đồng).
Về tốc độ tăng trưởng, BVB có mức tăng mạnh nhất khi lợi nhuận trước thuế gấp 6 lần cùng kỳ, lên 547 tỷ đồng; ABB gấp 2.1 lần (3,016 tỷ đồng), VBB (+ 84%), VPB (+68%), PGB (+ 66%) và NVB (+ 57%), CTG (+37%), VCB (+33%), HDB và OCB cùng tăng 31%, MBB (+27%) và NAB (+25%).
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận suy giảm do áp lực từ hoạt động kinh doanh hoặc dự phòng rủi ro. Saigonbank giảm mạnh nhất với mức 73%.
Nguồn: VietstockFinance
|
Trong ngắn hạn, lợi nhuận ngân hàng vẫn gắn với tăng trưởng tín dụng và cải thiện NIM
Ông Bùi Văn Huy đánh giá, trong ngắn hạn, lợi nhuận ngân hàng vẫn sẽ gắn chặt với tăng trưởng tín dụng và NIM. Trong dài hạn, chất lượng của mô hình kinh doanh sẽ được đánh giá ở khả năng làm cho thu nhập ngoài lãi tăng nhanh hơn và ổn định hơn. Khi đó, ngân hàng không nhất thiết phải giảm NII, mà mục tiêu là tăng thêm những nguồn thu khác để lợi nhuận không phụ thuộc quá nhiều vào việc liên tục mở rộng bảng cân đối.
Ngoài ra ông Nguyễn Quang Huy lưu ý các yếu tố cần theo dõi. Điều đáng quan tâm hơn không phải là thu nhập lãi còn chiếm tỷ trọng lớn hay không, mà là chất lượng của thu nhập lãi đó. Nếu ngân hàng tăng thu nhập nhờ mở rộng tín dụng vào những lĩnh vực có khả năng tạo dòng tiền tốt, khách hàng có năng lực trả nợ và biên lợi nhuận hợp lý, đó là tăng trưởng tích cực. Ngược lại, nếu lợi nhuận tăng chủ yếu nhờ mở rộng dư nợ nhưng phải đánh đổi bằng nợ xấu và chi phí dự phòng tăng nhanh, chất lượng lợi nhuận sẽ cần xem xét kỹ. Thị trường không nên chỉ nhìn vào con số lợi nhuận tăng bao nhiêu phần trăm, mà cần quan sát đồng thời NIM, thu nhập ngoài lãi, chi phí dự phòng và diễn biến nợ xấu. Đây mới là cách đánh giá đầy đủ hơn về sức khỏe của ngân hàng.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Thái Bình nhấn mạnh, cần xem xét thêm giao dịch của ngân hàng với bên liên quan, sở hữu chéo và tín dụng trong cùng hệ sinh thái. Có thể dòng vốn tín dụng giảm cho khu vực tư nhưng thực chất đang chảy vào các doanh nghiệp lớn, có thể là “sân sau”.
Tuy nhiên, lãi suất đang rất cao, khả năng trả nợ của người vay và chất lượng tài sản sẽ trở thành yếu tố quyết định mức lợi nhuận có thực sự bền vững hay không; nếu không, có thể dẫn tới nợ xấu tăng cao cho toàn hệ thống.
Mai Quốc - Cát Lam









