Tin tức
Tín hiệu báo động từ Trung Quốc [Kỳ 1]: Cỗ máy sản xuất không thể dừng

Tín hiệu báo động từ Trung Quốc [Kỳ 1]: Cỗ máy sản xuất không thể dừng

29/08/2026

Banner PHS

Tín hiệu báo động từ Trung Quốc [Kỳ 1]: Cỗ máy sản xuất không thể dừng

Thặng dư thương mại hàng hóa 1,189 tỷ USD năm 2025 là mức cao nhất một nền kinh tế từng đạt được. Đứng sau con số đó là tín dụng quốc doanh bơm không giới hạn vào các ngành ưu tiên và những chính quyền địa phương phải đảo nợ cho nhà máy thua lỗ để giữ chỉ tiêu tăng trưởng.

Sức mua của thế giới không tăng kịp để hấp thụ lượng hàng mà các nhà máy Trung Quốc buộc phải sản xuất ra. Ảnh minh hoạ.

Ngày 14/1/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố số liệu thương mại cả năm 2025: thặng dư hàng hóa đạt 1,189 tỷ USD, mức kỷ lục trong lịch sử kinh tế thế giới. Xuất khẩu tăng 5.5% lên 3.77 ngàn tỷ USD, còn nhập khẩu gần như đứng yên với mức tăng 0.5%, đạt 2.58 ngàn tỷ USD. Thặng dư này tăng nhanh gấp 3 lần tốc độ tăng của thương mại hàng hóa toàn cầu.

Khoảng cách giữa hai chiều xuất và nhập chỉ ra nguồn gốc của thặng dư nằm ở phía cung: Hàng rời khỏi Trung Quốc vì thị trường trong nước không tiêu thụ hết. Bắc Kinh đẩy mạnh bán ra nước ngoài để giải phóng lượng công suất đã được trợ cấp dựng lên, kể cả khi Mỹ và châu Âu dựng thêm rào thuế. Cỗ máy này chạy theo chỉ tiêu sản lượng và hạn mức tín dụng thay vì tín hiệu giá, nên không có cơ chế tự giảm tốc. Quy mô đó bắt nguồn từ chỗ đứng mới của Trung Quốc trên bản đồ công nghiệp thế giới.

Quy mô sản xuất vô tiền khoáng hậu

Tỷ trọng của Trung Quốc trong giá trị gia tăng sản xuất toàn cầu tăng từ 6% năm 2000 lên 27% năm 2025, theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, và dự báo chạm 45% năm 2030. Cùng lúc, tỷ trọng của Mỹ giảm còn 11%, Nhật Bản còn 5% và Đức còn 3%. Ngoài nước Mỹ sau Thế chiến II, chưa có tiền lệ nào về mức tập trung công nghiệp lớn như Trung Quốc hiện nay.

Tính theo tỷ trọng GDP toàn cầu, thặng dư hàng hóa công nghiệp hiện nay của Trung Quốc lớn hơn tổng thặng dư của Đức và Nhật Bản cộng lại ở bất kỳ thời điểm nào trong thập niên 1980. Thặng dư tài khoản vãng lai năm 2025 đạt 3.3% GDP, mức cao nhất kể từ giai đoạn bùng nổ xuất khẩu sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đà tích lũy kéo sang năm 2026 với 687 tỷ USD thặng dư trong 7 tháng đầu năm.

Dòng ngoại tệ thu về từ xuất khẩu không chảy ngược lại túi người tiêu dùng trong nước. Hệ thống tài chính quốc doanh hút lượng tiền đó vào các dự án mở rộng mới, buộc nhà máy chạy hết công suất và bán ra nước ngoài nhiều hơn nữa để nuôi vòng quay tiếp theo. Các đối tác thương mại đáp lại bằng những bức tường thuế ngày một cao: Mỹ áp thuế 100% và Liên minh châu Âu (EU) áp thuế chống trợ cấp tới 35.3% với xe điện Trung Quốc. Quy mô công nghiệp chưa từng có này là sản phẩm của một hệ thống hỗ trợ phi thị trường được thiết kế từ trung ương.

Ngân hàng cấp vốn theo danh sách ưu tiên

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ước tính khoảng 60% số thị phần sản xuất toàn cầu mà Trung Quốc giành thêm được đến từ trợ cấp của Chính phủ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính tổng quy mô trợ cấp công nghiệp của Trung Quốc tương đương 4.4% GDP, khoảng 800 tỷ USD mỗi năm; tính trên doanh thu doanh nghiệp, mức hỗ trợ nhà nước cao gấp 3 đến 8 lần các nước OECD.

Từ giữa thập niên 2010, Bắc Kinh chuyển dần từ cấp phát ngân sách trực tiếp sang mô hình Quỹ Định hướng Chính phủ (Government Guidance Funds), tức quỹ đầu tư dùng một phần vốn nhà nước để kéo theo vốn của ngân hàng và doanh nghiệp quốc doanh. Đến quý 1/2020, Trung Quốc đã lập 1,741 quỹ với tổng quy mô đăng ký 11 ngàn tỷ Nhân dân tệ, tương đương 1.55 ngàn tỷ USD; giữa năm 2024, tài sản thực tế các quỹ này quản lý đạt 4.52 ngàn tỷ Nhân dân tệ, khoảng 623 tỷ USD.

Cơ chế đó biến tiền nằm im trong ngân hàng quốc doanh thành vốn dài hạn rót vào 10 ngành chiến lược của chương trình "Made in China 2025": chất bán dẫn, xe năng lượng mới, pin lithium, tấm quang điện. Riêng Quỹ Đầu tư Công nghiệp Mạch tích hợp Quốc gia có quy mô 20.2 tỷ USD. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) bổ sung một tầng nữa bằng công cụ tái cấp vốn có chọn lọc, buộc ngân hàng thương mại cho vay lãi suất thấp với đúng danh mục ngành đó.

Vốn rẻ và dài hạn cho phép doanh nghiệp xây thêm nhà máy mà không cần chứng minh tỷ suất sinh lời hay khả năng trả nợ. Hàng trăm địa phương cùng đổ tiền vào một danh mục ngành, gây ra tình trạng xây dựng trùng lặp trên diện rộng và đẩy tỷ suất lợi nhuận toàn ngành xuống mức thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính năm 2009. Vốn phân bổ theo định hướng chính trị thay vì theo lợi nhuận thì thừa cung là kết quả tất yếu, và cuộc chiến giá cả nổ ra ngay trong nội bộ nền công nghiệp Trung Quốc.

Càng lỗ càng không được đóng cửa

Người Trung Quốc gọi cuộc chiến giá cả những năm gần đây là “neijuan” hay "nội quyển": Doanh nghiệp cùng ngành hạ giá xuống dưới giá vốn, chấp nhận lỗ để giành thị phần và triệt hạ đối thủ. Chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm liên tiếp 38 tháng tính đến cuối năm 2025; riêng nhóm ngành ưu tiên của "Made in China 2025", nơi tài sản doanh nghiệp tăng trung bình 32% giai đoạn 2021-2022, PPI rơi tới -4%.

Cuộc đua giảm giá bào mòn biên lợi nhuận đến mức gần 30% doanh nghiệp công nghiệp Trung Quốc đang lỗ, so với 20% trước đại dịch. Theo Cục Thống kê Quốc gia (NBS), số doanh nghiệp thua lỗ chạm kỷ lục 184,863 đơn vị vào tháng 3/2025 và vẫn ở mức 158,961 đơn vị vào tháng 6/2026. Tỷ lệ lỗ cao nhất rơi đúng vào các ngành được ưu đãi nhiều nhất: 34% ở thiết bị truyền thông và máy tính, 32% ở dược phẩm và thiết bị y tế, 29% ở máy móc và thiết bị điện. Riêng ngành tấm quang điện, hơn 50 doanh nghiệp trong chuỗi phá sản năm 2025.

Việc đóng cửa một nhà máy thua lỗ lại là thứ chính quyền địa phương không kham nổi. Bong bóng bất động sản vỡ từ năm 2021 cắt đứt nguồn thu bán quyền sử dụng đất, vốn từng chiếm 40% ngân sách địa phương, trong khi nghĩa vụ nợ không đổi. Nợ ẩn của các công ty tài trợ vốn địa phương (LGFV) lên tới 58 ngàn tỷ Nhân dân tệ theo ước tính của IMF, còn Bắc Kinh chỉ thừa nhận 44 ngàn tỷ; cộng cả nợ chính quyền địa phương, tổng số đạt 94 ngàn tỷ Nhân dân tệ, bằng 75% GDP.

Giữ nhà máy chạy là cách rẻ nhất để giữ việc làm, nguồn thuế và con số GDP mà quan chức địa phương phải báo cáo. Ngân hàng thương mại địa phương vì thế liên tục đảo nợ cho những doanh nghiệp có thu nhập trước lãi vay thấp hơn chi phí lãi vay, thay vì ghi nhận nợ xấu và bào mòn vốn của mình.

Tỷ trọng tài sản do doanh nghiệp “xác sống” phi tài chính nắm giữ tăng từ 5% năm 2018 lên 16% năm 2024; riêng ngành sản xuất tăng từ 4% năm 2020 lên 11% năm 2024. Cơ chế đào thải của thị trường bị vô hiệu hóa, nguồn lực bị khoá chặt trong những ngành kém hiệu quả và dư thừa công suất kéo dài thêm.

Hệ thống trả được chi phí đó nhờ khoản tiết kiệm dồi dào của người dân, bị giữ lại trong nước bởi các quy định kiểm soát vốn nghiêm ngặt: Rủi ro mất thanh khoản tức thời rất thấp, nhưng năng suất toàn nền kinh tế đi xuống. Bản thân khoản tiết kiệm ấy lại là sản phẩm của một lựa chọn chính sách kéo dài nhiều thập niên, nén chi tiêu hộ gia đình để dồn nguồn lực cho sản xuất.

Xuất khẩu là van xả áp bắt buộc

Nhà kinh tế Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang) gọi mô hình Trung Quốc là nền kinh tế "lợi thế tuyệt đối". Theo lý thuyết thương mại cổ điển, một nước giàu lên thì tiền lương tăng và phải nhường lại các ngành thâm dụng lao động giá rẻ. Trung Quốc không nhường: nước này vừa cạnh tranh với Mỹ và Đức về trí tuệ nhân tạo, xe điện, điện tử, vừa cạnh tranh với những nước nghèo nhất châu Phi về dệt may, giày dép và đồ gia dụng. Ngay cả Hàn Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế từng theo đuổi chiến lược trọng thương, cũng buông dần khâu giá trị thấp khi lương tăng.

Nền tảng của lợi thế đó là việc chuyển thu nhập liên tục từ người lao động sang doanh nghiệp nhà nước và ngân sách, giữ chi phí sản xuất luôn thấp. Tỷ trọng thu nhập khả dụng của hộ gia đình trong thu nhập quốc dân Trung Quốc thuộc nhóm thấp nhất thế giới. Tiêu dùng cá nhân chỉ chiếm khoảng 38% đến 39% GDP, tổng tiêu dùng cả công lẫn tư khoảng 50% GDP, so với mức trung bình toàn cầu 75%. Do thiếu mạng lưới an sinh đủ mạnh, người dân phải tự phòng thân bằng tỷ lệ tiết kiệm rất cao, và khoản tiết kiệm đó quay về ngân hàng quốc doanh với lãi suất thấp để nuôi tiếp các dự án công nghiệp.

Chiến lược "lưu thông kép" công bố năm 2020 bế tắc vì lý do đó. Chiến lược đặt tiêu dùng trong nước làm bệ đỡ chính và xuất khẩu làm động lực bổ trợ, nhưng kích hoạt tiêu dùng đòi hỏi Bắc Kinh chuyển một lượng của cải lớn từ Chính phủ và doanh nghiệp nhà nước sang hộ gia đình, tức nhường bớt quyền kiểm soát nguồn vốn. Bắc Kinh không sẵn lòng nhường. Xuất khẩu vì thế biến thành van xả áp bắt buộc: Trung Quốc phải chạy hết công suất và đẩy hàng dư thừa ra thế giới để hệ thống trong nước không vỡ.

Van xả thông qua xuất khẩu đang chạm tới giới hạn. Hai tháng đầu năm 2026, thặng dư thương mại của Trung Quốc tăng hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi IMF dự báo kinh tế thế giới chỉ tăng 3.1% cả năm. Sức mua toàn cầu không tăng đủ nhanh để hấp thụ chừng đó hàng, và phản ứng đồng loạt của các đối tác lớn cho thấy dư địa còn rất mỏng. Phép trừ giữa công suất đã xây dựng và số khách hàng thực có hiện rõ nhất ở hai ngành mà Bắc Kinh đặt cược nhiều nhất: pin mặt trời và xe điện.

Đón đọc Kỳ 2: Phép toán bất khả thi trong hai ngành sản xuất

Đức Quyền

FiLi - 12:00:00 29/08/2026

Banner PHS
Xin chào!
Đô Đô
Đô ĐôAI Assistant
Always ready to help
Xin chào bạn, mình là Đô Đô. Rất vui khi được đồng hành cùng bạn trên hành trình đầu tư thịnh vượng. Hôm nay mình có thể giúp gì cho bạn?
· Đô Đô
Không thể kết nối tới chatbot, vui lòng thử lại sau.
Logo PHS

Trụ sở: Tầng 21, Phú Mỹ Hưng Tower, 08 Hoàng Văn Thái, Phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh
(cũ: Phường Tân Phú, Quận 7)

(Giờ làm việc: 8h00 - 17h00 hàng ngày - trừ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ) 

1900 25 23 58
support@phs.vn
Kết nối với chúng tôi:

Đăng ký nhận tin

Tải app PHS-Mobile Trading

Công ty Cổ phần Chứng khoán Phú HưngCông ty Cổ phần Chứng khoán Phú Hưng