Doanh nghiệp thủy sản nặng gánh lãi vay trong quý 2
Các doanh nghiệp thủy sản báo lợi nhuận phân hóa trong quý 2/2026, song điểm chung là nhiều nơi cùng ghi nhận chi phí lãi vay tăng mạnh.
Theo dữ liệu thống kê của VietstockFinance, 17 doanh nghiệp thủy sản trên sàn mang về gần 16.9 ngàn tỷ đồng doanh thu trong quý 2, tăng 6.6% so với cùng kỳ. Lãi ròng đạt hơn 1.17 ngàn tỷ đồng, giảm 11.2%.
Số doanh nghiệp tăng và giảm lợi nhuận gần như chia đôi, với 9 đơn vị cải thiện và 8 đơn vị đi xuống. Mức hụt tại Nam Việt (HOSE: ANV) và Vĩnh Hoàn (HOSE: VHC) lớn hơn mức tăng ròng của các đơn vị còn lại, kéo kết quả chung của toàn ngành suy giảm.
Chi phí lãi vay cũng tăng đáng kể trong quý 2, lên gần 349 tỷ đồng, cao hơn 34% so với cùng kỳ. Có 11/17 doanh nghiệp phải trả nhiều hơn. Dù không giải thích được toàn bộ biến động lợi nhuận, khoản chi này tạo thêm sức ép lên kết quả kinh doanh của phần lớn Công ty.
Hai đầu tàu cá tra cùng hụt lãi
VHC tiếp tục dẫn đầu nhóm cá tra với hơn 3.44 ngàn tỷ đồng doanh thu, tăng gần 8%. Lãi ròng dù vậy giảm gần 9%, còn khoảng 469 tỷ đồng. Doanh thu tài chính giảm hơn một nửa, trong khi lãi vay tăng từ 14 tỷ đồng lên 29 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng, khoản chi này tăng hơn 43% lên 45 tỷ đồng.
ANV có mức giảm lợi nhuận lớn nhất ngành. Doanh thu tăng 12% lên gần 1.94 ngàn tỷ đồng nhưng giá vốn tăng hơn 31%, kéo biên lãi gộp từ 28.2% xuống còn 16.1%. Lãi ròng theo đó giảm gần 60%, về gần 135 tỷ đồng.
Áp lực tài chính tại ANV cũng tăng lên. Lãi vay gấp đôi cùng kỳ với hơn 36 tỷ đồng, còn chi phí bán hàng tăng 26% khiến lợi nhuận rơi về thấp nhất 5 quý.
| Lãi ròng ANV giảm liên tiếp cùng với chi phí lãi vay tăng vọt | ||
Không phải doanh nghiệp cá tra nào cũng đi xuống. Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia - IDI (HOSE: IDI) đạt hơn 2 ngàn tỷ đồng doanh thu, tăng gần 4%; lãi ròng tăng 80% lên hơn 53 tỷ đồng. Kết quả được hỗ trợ bởi lãi gộp cải thiện, chi phí quản lý giảm mạnh, lãi tiền gửi tăng và mức lỗ tỷ giá thấp hơn cùng kỳ.
IDI là doanh nghiệp chịu lãi vay lớn nhất ngành, hơn 103 tỷ đồng trong quý 2 và tăng 8%. Riêng khoản này đã tương đương 2 lần con số lãi ròng.
Lãi vay của Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long An Giang (HOSE: ACL) cũng vọt đến 73% song lợi nhuận vẫn đạt gần 3 lần với 17 tỷ đồng. Doanh thu giảm 12% nhưng giá vốn hạ nhanh hơn, giúp phần lãi còn lại từ hoạt động bán hàng cải thiện.
| Lãi vay của ACL cũng tăng mạnh | ||
Thủy sản Mekong (HOSE: AAM) lãi 3.4 tỷ đồng, gấp 3 lần cùng kỳ, chủ yếu nhờ bán cá nguyên liệu từ vùng nuôi và lãi tiền gửi. Trái lại, Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (UPCoM: AGF) chuyển từ lãi hơn 1 tỷ đồng sang lỗ 7.3 tỷ đồng. Doanh nghiệp cho biết, nguyên liệu khan hiếm, giá đầu vào và chi phí vận chuyển tăng, còn thiếu vốn lưu động tiếp tục hạn chế khả năng khai thác nhà máy và vùng nuôi.
Đầu tư Thương mại Thủy sản (UPCoM: ICF) cũng lỗ gần 2 tỷ đồng sau khi doanh thu giảm 25%. Lãi vay giảm gần 1/3 nhưng không đủ bù phần suy yếu từ hoạt động kinh doanh.
FMC gần gấp đôi lợi nhuận
Ở nhóm tôm, Thực phẩm Sao Ta (HOSE: FMC) tạo ra phần tăng lợi nhuận lớn nhất. Doanh thu giảm 11%, còn 1.67 ngàn tỷ đồng, nhưng lãi ròng tăng 93% lên 155 tỷ đồng. Đây cũng là kỳ kinh doanh lãi cao thứ hai lịch sử của Doanh nghiệp được dẫn dắt bởi ông Hồ Quốc Lực, sau đợt kỷ lục quý cuối năm trước.
Giá vốn giảm nhanh hơn doanh thu giúp biên lãi gộp của FMC tăng từ 10.5% lên gần 15%. Doanh thu tài chính tăng cùng chi phí bán hàng giảm đã đủ bù việc lãi vay tăng 45%, lên hơn 20 tỷ đồng.
| Lợi nhuận FMC cao thứ hai lịch sử nhưng đi cùng với đó là chi phí lãi vay lên kỷ lục | ||
Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (UPCoM: MPC) dẫn đầu toàn ngành về doanh thu với hơn 3.95 ngàn tỷ đồng, tăng 9%. Lãi ròng đạt 183 tỷ đồng, tăng gần 14%. Doanh nghiệp cho biết, cơ cấu bán hàng chuyển sang sản phẩm giá trị gia tăng có biên lợi nhuận tốt hơn, trong khi dòng tiền và chi phí hoạt động được kiểm soát chặt hơn.
MPC phải trả hơn 52 tỷ đồng lãi vay trong quý 2, tăng 53% và chỉ đứng sau IDI về quy mô. Việc lợi nhuận tiếp tục tăng cho thấy phần cải thiện từ bán hàng đã bù được chi phí vốn lớn hơn. Đây cũng là mức trả lãi cao nhất kể từ năm 2018 của “vua tôm”.
Kết quả tích cực không xuất hiện ở tất cả doanh nghiệp tôm. Camimex (UPCoM: CMM) tăng doanh thu 36% lên 1.12 ngàn tỷ đồng nhưng lãi ròng giảm gần 53%, còn hơn 17 tỷ đồng. Giá vốn tăng nhanh hơn khiến lãi gộp đi xuống; lãi vay tăng 27%, lên hơn 45 tỷ đồng.
| Lãi vay của MPC lên cao nhất kể từ năm 2018 | ||
Một số doanh nghiệp khác cũng bán được nhiều hơn nhưng giữ lại ít lợi nhuận hơn. Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (HOSE: ABT) tăng doanh thu 21% lên 214 tỷ đồng, song lãi ròng giảm hơn 16%, còn gần 52 tỷ đồng do giá vốn tăng nhanh hơn. Dù vậy, đây vẫn là kết quả tích cực nếu so với quá khứ của doanh nghiệp này.
Nông nghiệp Hùng Hậu (UPCoM: SJ1) đạt mức tăng doanh thu hơn 21% nhưng lãi ròng giảm trên một nửa, còn 4.3 tỷ đồng. Lãi vay trong kỳ tăng 28% lên gần 25 tỷ đồng.
Ở nhóm quy mô nhỏ, Kiên Hùng (HNX: KHS) lãi hơn 20 tỷ đồng, tăng gần 30%, trong đó có khoản thu từ chuyển nhượng toàn bộ dự án nhà máy bột cá. Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản Cadovimex (UPCoM: CAD) chuyển từ lỗ 3.4 tỷ đồng sang lãi hơn 200 triệu đồng.
Vốn nằm nhiều hơn ở hàng tồn kho
Lãi vay tăng tập trung tại nhóm có quy mô vốn lớn. Năm doanh nghiệp IDI, MPC, CMM, ANV và VHC chịu tổng cộng 266 tỷ đồng, tương đương hơn 76% chi phí lãi vay của 17 đơn vị. Ngoài ra, FMC, ACL, ABT, SJ1, SEA và AGF cũng phải trả nhiều hơn cùng kỳ.
Ở nhiều trường hợp, lãi vay tăng đi cùng dư nợ hoặc lượng vốn nằm trong hàng hóa đi lên. Tổng hàng tồn kho của 17 doanh nghiệp cuối quý 2 đạt gần 16.6 ngàn tỷ đồng, tăng 4.6% trong 3 tháng và 5.8% so với đầu năm. MPC có hơn 6.1 ngàn tỷ đồng tồn kho, CMM gần 2.4 ngàn tỷ đồng và FMC gần 1.4 ngàn tỷ đồng.
| Tồn kho và nợ vay ngắn hạn của MPC lên mức cao nhất trong nhiều năm | ||
| Dư nợ vay ngắn hạn của FMC cũng lên kỷ lục, trong khi tồn kho chỉ kém mức đỉnh quý 2/2024 | ||
Kết quả kinh doanh phân hóa dù xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục tăng. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch nửa đầu năm đạt gần 5.8 tỷ USD, tăng 12.8%. Trung Quốc và Hồng Kông chi hơn 1.5 tỷ USD mua thủy sản Việt Nam, tăng gần 38%, trong khi thị trường Mỹ gần như đi ngang và EU suy giảm.
Đà tăng xuất khẩu chưa xóa hết áp lực chi phí. Giá cước container quốc tế tiến sát mức cao nhất trong gần 2 năm khi các nhà nhập khẩu đưa hàng về sớm, còn bất ổn tại Biển Đỏ và Trung Đông khiến nhiều hãng tàu phải điều chỉnh hành trình. Với thủy sản phụ thuộc nhiều vào container lạnh, thời gian vận chuyển kéo dài sẽ làm tăng chi phí đưa hàng đến thị trường tiêu thụ.
Cổ phiếu thủy sản vẫn khó
Diễn biến trên sàn cũng không mấy tích cực. Sau nhiều quý kết quả kinh doanh sa sút, ANV hiện giao dịch quanh 17,000 đồng/cp, giảm 50% so với đỉnh lịch sử thiết lập tháng 10/2025. VHC dao động quanh 52,000 đồng/cp, thấp hơn 25% so với đỉnh tháng 2/2026.
Sức hút cổ phiếu khó cải thiện khi ngành thủy sản còn chịu thêm sức ép từ chính sách thuế mới của Mỹ. Từ 24/07/2026, nước này áp thuế bổ sung 12.5% theo Mục 301 đối với phần lớn hàng hóa Việt Nam, trong đó có nhiều mặt hàng thủy sản. Biện pháp này xuất phát từ cuộc điều tra liên quan việc thực thi lệnh cấm hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức, khác với thuế đối ứng được công bố tháng 4/2025.
Ngay cả một số doanh nghiệp có kết quả cải thiện cũng chứng kiến cổ phiếu trượt dài. IDI chỉ còn quanh 5,000 đồng/cp, tương đương một nửa mệnh giá và giảm gần 50% so với đỉnh giữa năm 2025. Mức này thấp hơn cả vùng đáy hình thành sau khi Mỹ công bố thuế đối ứng tháng 4/2025, đồng thời đưa cổ phiếu về vùng thấp nhất 5 năm.
ABT cũng lùi từ hơn 70,000 đồng/cp cuối 2025 xuống 50,000 đồng/cp, mất gần 30% dù kết quả vẫn tích cực nhất trong nhiều năm kinh doanh. FMC vừa có quý lãi ròng tăng gần gấp đôi cùng kỳ, song cổ phiếu vẫn 34,000 đồng/cp, chỉ cao hơn 13% so với đáy tạo lập sau cú sốc thuế đối ứng. VHC cũng chỉ cao hơn vùng đáy này 20%.
| Thị giá ABT lùi sâu dù kết quả kinh doanh không thấp | ||
Tử Kính










