Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 xác định 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm được xây dựng trong bối cảnh Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu vừa bảo tồn các giá trị văn hiến lịch sử của Thăng Long – Hà Nội, vừa hình thành một đại đô thị hiện đại, thông minh và có sức cạnh tranh toàn cầu.
Từ ngày 13/03, thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây được xem là bước quan trọng nhằm huy động trí tuệ và tâm huyết của các tầng lớp nhân dân, góp phần hoàn thiện định hướng phát triển lâu dài của Thủ đô.
Tại Báo cáo thuyết minh Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang được đưa ra lấy ý kiến nhân dân, cấu trúc phát triển không gian của Thủ đô đã được định hình với hệ thống các cực phát triển, trung tâm đô thị cùng mô hình tổ chức không gian đa tầng, đa lớp.
Quy hoạch được lập trên toàn bộ lãnh thổ Thủ đô với diện tích khoảng 3,359.8 km². Hà Nội đặt ra các mục tiêu phát triển theo từng giai đoạn, đồng thời mở rộng tầm nhìn dài hạn đến 100 năm nhằm tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đại đô thị.
Giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 11% mỗi năm, đưa GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 12,000 USD vào năm 2030. Sang giai đoạn 2031-2045, Thủ đô hướng tới trở thành đô thị toàn cầu tầm khu vực, trung tâm đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức của Đông Nam Á, với GRDP bình quân đầu người dự kiến đạt khoảng 42,000 USD vào năm 2045.
Giai đoạn 2046-2065, Hà Nội tiếp tục phát triển theo định hướng đô thị phát triển cao, bền vững và thông minh, với GRDP bình quân đầu người khoảng 95,000 USD.
Trong tầm nhìn 100 năm, Hà Nội được định vị trở thành đô thị toàn cầu về văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ, đồng thời là trung tâm đổi mới sáng tạo và tài chính quốc tế, phát triển theo mô hình đô thị xanh, thông minh, đa cực và đa trung tâm.
Quy hoạch thiết lập mô hình phát triển không gian mới cho Hà Nội theo cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm. Thay vì tập trung toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội vào khu vực nội đô lịch sử, cấu trúc mới tổ chức lại hệ thống đô thị theo nhiều cực tăng trưởng và nhiều trung tâm chức năng, tạo ra mạng lưới đô thị liên kết chặt chẽ với vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng.
Theo mô hình này, các trung tâm chức năng cấp quốc gia chủ yếu nằm ở khu vực phía Nam sông Hồng, trong khi các trung tâm mang tính quốc tế được định hướng phát triển ở khu vực phía Bắc sông Hồng. Trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia tiếp tục đặt tại Ba Đình, trung tâm thành phố truyền thống vẫn duy trì tại khu vực Hồ Gươm, nhưng các trung tâm mới về khoa học công nghệ, tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo và dịch vụ toàn cầu sẽ được hình thành ở các khu vực mở rộng phía Bắc và phía Tây nhằm tạo ra các động lực phát triển mới cho toàn đô thị.
Nguồn: Hồ sơ Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
|
9 cực phát triển
Quy hoạch xác định 9 cực phát triển, đóng vai trò là các khu vực động lực chính dẫn dắt sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô trong dài hạn. Mỗi cực phát triển được định vị với một chức năng chủ đạo, tạo thành hệ sinh thái kinh tế đa dạng, bổ trợ lẫn nhau.
Cực phát triển thứ nhất là đô thị trung tâm ở khu vực hữu ngạn sông Hồng, bao gồm khu vực nội đô lịch sử và các khu mở rộng. Đây tiếp tục là cực văn hóa – lịch sử – chính trị của Thủ đô, nơi đặt trung tâm hành chính quốc gia, các thiết chế chính trị quan trọng, đồng thời cũng là trung tâm tài chính, thương mại, văn hóa và đối ngoại của Hà Nội. Khu vực này giữ vai trò lõi của toàn bộ cấu trúc đô thị, gắn với các không gian biểu tượng như Ba Đình, Hồ Gươm, phố Cổ, phố Cũ, Hồ Tây, và các khu vực trung tâm truyền thống. Quy mô diện tích khoảng 74,464ha (bao gồm cả phần mở rộng Đô thị thể thao Olympic khoảng 5,057ha). Dân số đến năm 2045 khoảng: 6,495 triệu người, đến năm 2065 khoảng 7.1 triệu người.
Cực phát triển thứ hai nằm ở phía Bắc Hà Nội, bao gồm Mê Linh – Đông Anh – Sóc Sơn. Đây được định hướng trở thành cực động lực hội nhập quốc tế của Thủ đô, phát triển các trung tâm dịch vụ, tài chính, thương mại quốc tế, logistics và công nghiệp công nghệ cao gắn với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Khu vực này được định hướng hình thành mô hình “đô thị sân bay”, trở thành cửa ngõ quốc tế của Hà Nội và là trung tâm giao thương quốc tế quan trọng của vùng Thủ đô. Quy mô diện tích khoảng 37,205 ha; dân số đến năm 2045 khoảng 3 triệu người, đến năm 2065 khoảng 3.5 triệu người. Không gian đô thị theo mô hình TOD, khai thác trọng tâm Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, trục động lực phát triển Nhật Tân - Nội Bài (đường Võ Nguyên Giáp), Bắc Thăng Long - Nội Bài (đường Võ Văn Kiệt), trục không gian Hồ Tây – Cổ Loa – sân bay Gia Bình… Hình thành trung tâm CBD quy mô lớn, trung tâm dịch vụ tài chính – thương mại – dịch vụ du lịch khách sạn, Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia, quốc tế, các khu tự do thương mại quy mô lớn,… Phát triển tổ hợp vui chơi giải trí đa năng: Công viên Kim Quy, Trường đua ngựa Thể thao Sóc Sơn, công viên Đầm Vân Trì, Đầm Lai Cách, Hồ Đồng Quang…
Cực phát triển thứ ba đô thị phía Đông, bao gồm Gia Lâm – Long Biên, được định hướng trở thành cực động lực về thương mại và dịch vụ cửa ngõ phía Đông. Khu vực này sẽ phát triển các tổ hợp thương mại quy mô lớn, hệ thống logistics hiện đại, cảng cạn ICD và các trung tâm dịch vụ cấp vùng gắn với hành lang kinh tế Quốc lộ 5 và cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, kết nối trực tiếp với tam giác kinh tế động lực phía Đông gồm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Diện tích khoảng 12,178ha; Dân số đến năm 2045 khoảng 1.2 triệu người, đến năm 2065 khoảng 1.5 triệu người.
Cực phát triển thứ tư là đô thị phía Nam Hà Nội, khu vực Thường Tín – Phú Xuyên, được định hướng trở thành cực công nghiệp và logistics của Thủ đô. Đây sẽ là trung tâm phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao, trung tâm logistics liên vùng, nông nghiệp công nghệ cao và các đầu mối giao thông đa phương thức, gắn với các tuyến đường sắt tốc độ cao, cảng sông và định hướng xây dựng sân bay thứ hai của Hà Nội trong tương lai. Diện tích 11,063ha; Dân số đến năm 2045 khoảng 0.75 triệu người, đến năm 2065 khoảng 0.9 triệu người
Cực phát triển thứ năm là đô thị Vân Đình – Đại Nghĩa, nằm ở phía Nam thành phố. Khu vực này được định hướng phát triển thành đô thị sinh thái cảnh quan gắn với hệ thống sông ngòi và các không gian văn hóa – tín ngưỡng đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời gắn với tiềm năng phát triển du lịch văn hóa và dịch vụ sinh thái. Diện tích 3,500ha; Dân số đến năm 2045 khoảng 0.25 triệu người, đến năm 2065 khoảng 0.3 triệu người.
Cực phát triển thứ sáu là khu vực Xuân Mai – Chương Mỹ ở phía Tây Nam, được định hướng phát triển thành đô thị giáo dục, đào tạo và y tế, kết hợp với các không gian sinh thái và nghỉ dưỡng. Đây được xem là một trung tâm đào tạo lớn của vùng Thủ đô, nơi tập trung các cơ sở giáo dục đại học, đào tạo nghề và các trung tâm nghiên cứu. Diện tích 4,558ha; Dân số đến năm 2045 khoảng 0.35 triệu người, đến năm 2065 khoảng 0.4 triệu người
Cực phát triển thứ bảy là đô thị Hòa Lạc diện tích khoảng 9,762ha, nằm ở phía Tây Hà Nội, được xác định là trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia. Trọng tâm của cực này là Khu công nghệ cao Hòa Lạc 1,600ha, Đại học Quốc gia Hà Nội với quy mô 1,000ha và hình thành cụm trường phân tán tại phía nam với quy mô 100 – 200ha, trung tâm y tế tập trung 200ha tạo thành một hệ sinh thái nghiên cứu – đào tạo – sản xuất công nghệ cao, đồng thời kết nối với các tỉnh phía Tây như Phú Thọ, Sơn La và Thanh Hóa.
Cực phát triển thứ tám là khu vực Sơn Tây – Ba Vì ở phía Tây Bắc, diện tích 8,600ha, được định hướng phát triển thành đô thị văn hóa – lịch sử và du lịch nghỉ dưỡng. Đây là khu vực có giá trị di sản đặc sắc của vùng xứ Đoài, gắn với hệ thống di tích lịch sử, danh thắng thiên nhiên và các không gian sinh thái, đồng thời có vai trò quan trọng về quốc phòng – an ninh của Thủ đô.
Cực phát triển thứ chín là không gian sông Hồng, được xác định là một cực phát triển đặc biệt của Hà Nội trong tương lai với diện tích 6,500ha. Không gian này không chỉ là trục cảnh quan trung tâm mà còn được định hướng phát triển các hoạt động tài chính, thương mại, dịch vụ, du lịch, đô thị thể thao Olympic và các không gian sáng tạo dọc hai bờ sông, hình thành biểu tượng mới của Hà Nội.
9 trung tâm đô thị lớn
Song song với hệ thống các cực phát triển, quy hoạch cũng xác định 9 trung tâm đô thị lớn dựa trên quy mô, tính chất và lợi thế phát triển của từng khu vực.
Trung tâm thứ nhất là Đô thị Trung tâm (hữu ngạn sông Hồng), nơi tập trung các chức năng chính trị – hành chính quốc gia và thành phố, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế của Thủ đô.
Trung tâm thứ hai là trung tâm đô thị Bắc sông Hồng, định hướng phát triển các hoạt động kinh tế, dịch vụ và hội nhập quốc tế gắn với không gian đô thị mới phía Bắc. Trung tâm thứ ba là trung tâm đô thị phía Đông, phát triển các chức năng thương mại, dịch vụ, logistics, y tế, giáo dục và du lịch.
Trung tâm thứ tư là trung tâm đô thị Olympic, được định hướng phát triển thành khu thể thao quốc gia và quốc tế của Việt Nam. Trung tâm thứ năm là trung tâm đô thị Phú Xuyên, nơi phát triển mạnh các hoạt động logistics, y tế và công nghiệp công nghệ cao. Trung tâm thứ sáu là trung tâm đô thị Vân Đình – Đại Nghĩa, tập trung các chức năng văn hóa tâm linh, du lịch sinh thái và phát triển làng nghề truyền thống.
Trung tâm thứ bảy là trung tâm đô thị Xuân Mai, phát triển các hoạt động giáo dục đào tạo, du lịch và sinh thái cảnh quan. Trung tâm thứ tám là trung tâm đô thị Hòa Lạc, nơi tập trung các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trung tâm thứ chín là trung tâm đô thị Sơn Tây, phát triển các chức năng văn hóa di sản, đào tạo, y tế và du lịch sinh thái.
9 trục phát triển của Hà Nội trong tầm nhìn 100 năm - Nguồn: Hồ sơ Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm
|
9 trục động lực phát triển
Để liên kết các cực phát triển và các trung tâm đô thị, quy hoạch đồng thời xác lập 9 trục động lực phát triển, đóng vai trò là khung xương sống của cấu trúc không gian đô thị Hà Nội.
Trục thứ nhất là trục Nhật Tân – Nội Bài, hình thành hành lang phát triển đô thị phía Bắc gắn với sân bay quốc tế Nội Bài và được xem là biểu tượng của sự hiện đại và hội nhập của Thủ đô. Phát triển mô hình Đô thị Sân bay gắn liền với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; tập trung các công trình điểm nhấn tầm cỡ quốc gia và quốc tế như: Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia, Thành phố thông minh Bắc Hà Nội, Trung tâm Tài chính - Thương mại Quốc tế Phương Trạch.
Trục thứ hai là trục Hồ Tây – Cổ Loa – sân bay Gia Bình, kết nối khu trung tâm với các khu đô thị sáng tạo và tài chính – công nghệ cao phía Đông Bắc, đồng thời liên kết với các hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
Trục thứ ba là trục Quốc lộ 5 và cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đóng vai trò kết nối Hà Nội với hệ thống cảng biển quốc tế. Trục đô thị dịch vụ, thương mại và logistics thông minh. Trong đó, cửa ngõ Phía Đông Hà Nội (Gia Lâm - Văn Giang): Tổ hợp "Siêu quần thể" Vinhomes Ocean Park 1-2-3 (1,200ha) và Ecopark (500ha). Hưng Yên (Phố Nối) được xác định là thủ phủ công nghiệp với các KĐT phụ trợ như T&T Phố Nối, Lạc Hồng Phúc phục vụ chuyên gia và công nhân kỹ thuật; phát triển đô thị xanh ven sông Thái Bình với Ecorivers và khu đô thị phía Tây (Tân Phú Hưng). Hải Phòng (Thủy Nguyên & An Dương) có thành phố mới Thủy Nguyên (Trung tâm hành chính mới) và Vinhomes Imperia/Marina.
Trục thứ tư là trục Quốc lộ 1A và cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, kết nối Thủ đô với mạng lưới kinh tế quốc gia phía Nam và vùng duyên hải. Phát triển Ga đầu mối đường sắt Ngọc Hồi, cực tăng trưởng phía Nam (Phú Xuyên), khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội, hệ thống cảng cạn (ICD) và cảng sông Hồng, sân bay thứ 2.
Trục thứ năm là trục Quốc lộ 21B – 21C, vừa là hành lang công nghiệp – logistics vừa là trục cảnh quan văn hóa kết nối di sản Mỹ Đình – Ba Sao – Hương Tích – Bái Đính.
Trục thứ sáu là trục Quốc lộ 6 và tuyến Hà Đông – Xuân Mai, phát triển chuỗi đô thị sinh thái kết nối trung tâm Hà Nội với cửa ngõ vùng Tây Bắc. Hình thành các khu đô thị đại học (Cụm trường đại học Chương Mỹ), đô thị sinh thái (Chúc Sơn) và các cụm công nghiệp hỗ trợ, chế biến nông sản thực phẩm công nghệ cao, chuỗi đô thị sinh thái.
Trục thứ bảy là trục Đại lộ Thăng Long – Hồ Tây – Ba Vì, được định hướng trở thành trục kinh tế tri thức, kết nối khu trung tâm với cực phát triển khoa học công nghệ Hòa Lạc và không gian văn hóa xứ Đoài. Phân đoạn đô thị trung tâm (Mễ Trì - Tây Mỗ): Phát triển các trung tâm thể thao quốc gia, trung tâm hội nghị quốc gia, các khu đô thị hiện đại, mật độ cao gắn với các ga đường sắt đô thị. Phân đoạn Vành đai 4 - Hòa Lạc: Phát triển chuỗi đô thị sinh thái, đô thị thông minh. Điểm nhấn là Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia), Đại học Quốc gia Hà Nội (đô thị đại học) và Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Hình thành 4 cụm không gian chức năng chuyên biệt tại Hòa Lạc: Khu Đại học Quốc gia Hà Nội, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Khu trung tâm y tế tập trung, và Khu đô thị sinh thái.
Trục thứ tám là trục Quốc lộ 32 – Tây Thăng Long, kết nối đô thị trung tâm với Sơn Tây và các khu du lịch sinh thái phía Tây Bắc. Phát triển các khu đô thị mới tại Hoài Đức, Đan Phượng; bảo tồn và phát huy giá trị Thành cổ Sơn Tây, Làng cổ Đường Lâm; hình thành các cụm trường đại học, cao đẳng di dời từ nội đô.
Trục thứ chín là trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đóng vai trò là trục không gian xanh trung tâm của Thủ đô, gắn với các hoạt động văn hóa sáng tạo và trở thành biểu trưng cho Hà Nội “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo”, biểu tượng mới của Thủ đô văn minh, hiện đại.
Thu Minh







