Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn kế toán đối với tài sản mã hóa

Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 15/2026/TT-BTC hướng dẫn nguyên tắc kế toán đối với các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Thông tư được áp dụng trong thời gian triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo quy định tại Nghị quyết 05/2025/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa.

Theo quy định, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức phát hành tài sản mã hóa và nhà đầu tư trong nước phải tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Kế toán Việt Nam, các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp và các quy định pháp luật liên quan đến thị trường tài sản mã hóa.

Việc hạch toán kế toán được thực hiện theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 99/2025/TT-BTC và các quy định tại Thông tư 15/2026/TT-BTC để ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính.

Đối với các tổ chức phát hành tài sản mã hóa và nhà đầu tư trong nước đang áp dụng chế độ kế toán riêng, việc hạch toán tiếp tục thực hiện theo chế độ kế toán đang áp dụng, đồng thời tuân thủ các quy định tại Thông tư này khi ghi sổ và lập báo cáo tài chính.

Quy định hạch toán doanh thu và quản lý tài sản mã hóa

Theo Thông tư, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa ghi nhận doanh thu từ các hoạt động như tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, lưu ký tài sản mã hóa và cung cấp nền tảng phát hành tài sản mã hóa vào tài khoản "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ".

Doanh thu phải được theo dõi chi tiết theo từng loại dịch vụ và từng hoạt động nghiệp vụ. Đồng thời, các tổ chức phải phân loại và theo dõi các khoản nợ phải thu, thực hiện trích lập dự phòng đối với các khoản nợ khó đòi theo quy định của pháp luật.

Tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa phải quản lý và hạch toán tách biệt tiền và tài sản mã hóa của khách hàng với tài sản của chính tổ chức. Các khoản tiền và tài sản mã hóa của khách hàng được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng và từng loại tài sản mã hóa.

Tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký tại tổ chức cung cấp dịch vụ không được ghi nhận là tài sản của tổ chức cung cấp dịch vụ mà chỉ được theo dõi chi tiết phục vụ công tác quản lý và thuyết minh trên báo cáo tài chính.

Ngoài ra, tổ chức cung cấp dịch vụ phải theo dõi chi tiết các khoản phải thu của thành viên lưu ký theo từng đối tượng, nội dung và từng lần thanh toán.

Hạch toán hoạt động tự doanh và phát hành tài sản mã hóa

Thông tư quy định các khoản doanh thu và chi phí phát sinh từ hoạt động tự doanh tài sản mã hóa được ghi nhận tương tự hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, việc áp dụng tương tự chỉ nhằm mục đích hạch toán kế toán và không đồng nghĩa coi tài sản mã hóa là chứng khoán.

Các tổ chức cung cấp dịch vụ phải theo dõi chi tiết từng loại tài sản mã hóa tự doanh đang nắm giữ, ghi nhận đầy đủ và kịp thời các khoản thu từ hoạt động này, đồng thời trích lập dự phòng rủi ro tương tự như hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán.

Đối với tổ chức phát hành tài sản mã hóa, việc hạch toán kế toán được thực hiện căn cứ vào bản chất nghĩa vụ phát sinh từ tài sản mã hóa đã phát hành và mục đích nắm giữ. Trường hợp tài sản mã hóa mang bản chất huy động vốn thì được hạch toán tương tự hoạt động vay vốn của doanh nghiệp.

Quy định đối với nhà đầu tư trong nước

Theo Thông tư, nhà đầu tư trong nước tham gia giao dịch trên nền tảng của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được thực hiện hoạt động mua và bán tài sản mã hóa.

Việc hạch toán kế toán đối với các giao dịch này được thực hiện tương tự hoạt động đầu tư tài chính và căn cứ theo mục đích đầu tư, nắm giữ tài sản mã hóa để ghi nhận kế toán cho phù hợp.

Tùng Phong

FILI - 19:13:00 10/03/2026