Đầu tư năm 2026 sẽ không còn “dễ ăn” như 2025?

Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn hiếm thấy khi hầu hết các lớp tài sản từ vàng, cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản đến crypto đều bứt phá. Tuy nhiên, theo ông Ngô Thành Huấn – Tổng Giám đốc FIDT, bối cảnh “dễ ăn” đó sẽ khó lặp lại trong năm 2026 khi kinh tế thế giới bước vào trạng thái lệch pha và bất định.

Tại tọa đàm Quản lý gia sản năm 2026, Tổng Giám đốc FIDT Ngô Thành Huấn cho rằng bức tranh đầu tư toàn cầu bước sang giai đoạn khó khăn hơn. Nếu năm 2025 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh trên hầu hết các lớp tài sản từ vàng, bất động sản đến chứng khoán và tài sản mã hóa (crypto), thì năm 2026 sẽ thiếu đi sự thuận lợi đó, thậm chí chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Từ khóa mà ông Huấn lựa chọn để mô tả năm 2026 là “lệch pha, bất định và tái cân bằng”.

Ông Ngô Thành Huấn – Tổng Giám đốc FIDT chia sẻ góc nhìn về vĩ mô tại Tọa đàm Quản lý gia sản năm 2026

Độ lệch pha của kinh tế toàn cầu không mới nhưng đáng chú ý trong năm 2026

Theo ông Huấn, câu chuyện năm 2026 xoay quanh sự lệch pha của kinh tế toàn cầu sau chu kỳ thắt chặt tiền tệ (2022-2023) và nới lỏng (2024-2025).

Ông Huấn chỉ ra Mỹ là ví dụ điển hình. Sau đợt thắt chặt 2023, kinh tế Mỹ hồi phục nhanh nhờ chi tiêu tiêu dùng và đặc biệt là công nghệ – lợi thế mà các nền kinh tế khác không có. Khi tăng trưởng trở lại, chính sách tiền tệ của Mỹ buộc phải nới lỏng một cách thận trọng, tức quá trình hạ lãi suất không thể ồ ạt. FIDT từng cảnh báo, nếu Mỹ hạ lãi suất quá nhanh trong khi các nền kinh tế khác vẫn yếu, rủi ro toàn cầu sẽ tăng mạnh do Mỹ là nền kinh tế duy nhất giữ vai trò động lực tăng trưởng.

Trong khi đó, Trung Quốc kéo dài pha điều chỉnh vì khủng hoảng bất động sản; châu Âu lại rơi vào trạng thái trì trệ bởi cấu trúc kinh tế già cỗi cùng gánh nặng năng lượng – hệ quả từ xung đột Nga – Ukraine. Sự lệch pha giữa 3 nền kinh tế lớn khiến môi trường vĩ mô năm 2026 mang tính bất định cao.

Tổng Giám đốc FIDT nhấn mạnh, hiếm khi các nền kinh tế lớn lại lệch pha mạnh như bối cảnh hiện nay. Khi nền kinh tế toàn cầu đi cùng một chu kỳ, chính sách tiền tệ – tài khóa và mặt bằng lãi suất thường đồng thuận, giúp thị trường vốn dễ định hình. Ngược lại, khi chu kỳ lệch nhau, chi phí vốn khác biệt rõ rệt, khiến dòng vốn khó định vị và khó dự báo hướng di chuyển.

Tình trạng chênh lệch chính sách và chi phí vốn còn bị khuếch đại khi Mỹ áp thêm thuế quan trong bối cảnh chuỗi cung ứng đã rối loạn từ đại dịch đến chiến sự. Trong khi đó, sức cầu của hai thị trường lớn là Trung Quốc và châu Âu đang yếu, kéo theo hệ quả trực tiếp đối với những nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam. Dù tăng trưởng GDP năm 2025 của Việt Nam đạt 8%, song phần đóng góp chủ yếu đến từ xuất khẩu của khối FDI, trong khi khối nội địa và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) vẫn chịu sức ép lớn về đầu ra hàng hóa.

Ông dẫn số liệu, 85% trong số hơn 150 doanh nghiệp SMEs mà FIDT quản lý tài sản không muốn vay vốn dù lãi suất thấp, bởi bài toán nằm ở nhu cầu tiêu thụ, không phải năng lực sản xuất. Khi không bán được hàng, chủ doanh nghiệp khó khăn thì người lao động cũng chính là người tiêu dùng sẽ phải thắt chặt chi tiêu.

Vị chuyên gia cho biết đây không phải lần đầu kinh tế thế giới lệch pha, nhưng mức độ của năm 2026 đáng chú ý hơn. Lịch sử từng chứng kiến các giai đoạn lệch pha đi kèm khủng hoảng như năm 1973 với cú sốc dầu mỏ, năm 2000 với bong bóng dotcom hay năm 2008 với khủng hoảng tín dụng ở Mỹ. Tuy nhiên, lần này sự lệch pha diễn ra trong bối cảnh chỉ có một mình Mỹ giữ vai trò đầu tàu, còn các nền kinh tế lớn khác đều đang yếu.

Ông Huấn đưa ra kịch bản nếu Mỹ không thể hạ cánh mềm, nguy cơ Việt Nam rơi vào trì trệ kinh tế là có thật, nhất là khi tăng trưởng toàn cầu thiếu một lực kéo đủ mạnh. “Muốn Trung Quốc hồi phục trong khi Mỹ suy thoái gần như là điều không thể. Hơn nữa, nếu Mỹ khó khăn thì châu Âu càng khó, và khi đó chúng ta không còn thị trường để xuất khẩu”, ông nói.

“Động cơ” cũ đã bị “bào mòn”

Ông đưa ra hình ảnh so sánh: “Nói về một cỗ máy thì phải nói về động cơ. Một cỗ máy muốn vận hành được phải có động cơ tương thích. Tương tự, kinh tế Việt Nam muốn bước vào kỷ nguyên vươn mình cũng cần một ‘động cơ’ mới.

Nhìn lại 2 thập kỷ qua, mô hình tăng trưởng dựa vào bất động sản, thâm dụng lao động và chính sách tiền tệ nới lỏng. Cả ba động cơ này đều đã bị bào mòn bởi lao động không còn rẻ, bất động sản không còn dư địa giá thấp để kích cầu, và chính sách tiền tệ cũng không còn nhiều không gian nới lỏng. Nghị quyết 79 của Chính phủ vì vậy nhấn mạnh chuyển từ tăng trưởng theo tốc độ sang tăng trưởng theo chất lượng và cấu trúc, thông qua đổi mới sáng tạo, công nghệ và sản xuất hàm lượng chất xám cao để gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng. Song thay “động cơ” cho một nền kinh tế không dễ, nhất là khi môi trường bên ngoài đầy biến động.

Ông Huấn nhấn mạnh năm 2026 do đó sẽ là một năm đầu tư khó khăn hơn rất nhiều so với 2025. Chiến lược tài sản không còn xoay quanh việc tìm kiếm các cú đột phá ngắn hạn, mà chuyển sang ưu tiên quản trị rủi ro, đa dạng hóa danh mục và theo sát những biến động trên thị trường vốn quốc tế khi bối cảnh chi phí vốn không đồng nhất. Mỹ vẫn duy trì mức lãi suất cao, còn châu Âu và Trung Quốc tiếp tục nới lỏng - đặt ra câu hỏi về các rủi ro mới có thể xuất hiện. Ở trong nước, Chính phủ duy trì sự thận trọng, không đi quá nhanh để tránh rủi ro nhưng cũng không đi quá chậm để đánh mất cơ hội. Dư địa còn lại nằm ở chính sách tài khóa thông qua đầu tư công và khả năng tiếp tục hạ lãi suất.

Trong bức tranh tiềm ẩn rủi ro như thế, ông Huấn cho rằng năm 2026 sẽ không ưu ái cho các tài sản mang tính đầu cơ ngắn hạn. Ngược lại, các ngành gắn với đầu tư công, hạ tầng, logistics, tiêu dùng thiết yếu và công nghệ sẽ có triển vọng tốt hơn, trong khi xuất khẩu và doanh nghiệp SMEs tiếp tục là nhóm gặp nhiều thách thức. “Năm 2025 chứng kiến giai đoạn bùng nổ nhưng 2026 là thời điểm để tái cân bằng”, ông Huấn kết luận.

Khang Di

FILI - 09:48:04 11/01/2026