Chè có nguy cơ mất thị trường
Theo chỉ tiêu đặt ra, năm 2005 ngành chè phải xuất khẩu được 95.000 tấn với trị giá 107 triệu USD. Tuy nhiên đến thời điểm này mới chỉ đạt khoảng 88 triệu USD. Ngành chè đang phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường". Đó là nhận định của không ít các chuyên gia ngành chè...
Theo chỉ tiêu đặt ra, năm 2005 ngành chè phải xuất khẩu được 95.000 tấn với trị giá 107 triệu USD. Tuy nhiên đến thời điểm này mới chỉ đạt khoảng 88 triệu USD. Ngành chè đang phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường". Đó là nhận định của không ít các chuyên gia ngành chè.
Nhiều thị trường từ chối không nhập khẩu
Việt
Xuất khẩu vẫn tập trung vào những thị trường lớn như Đài
Một trong số những thị trường nhập khẩu chè lớn ở Việt
Hơn nữa, hiện có rất nhiều thị trường từ chối không nhập khẩu chè của Việt Nam như Ailen, Bỉ, Campuchia, Đan Mạch, Hàn Quốc, Hồng Kông, Pháp, Thái Lan và Thuỵ Điển. Số thị trường được coi là tiềm năng của năm 2006 rất ít ỏi, thậm chí năm 2005 chúng ta đã bị mất khá nhiều thị trường so với năm 2004.
Thống kê sơ bộ có khoảng 70 doanh nghiệp được tham gia xuất khẩu chè năm 2004 nhưng năm nay không xuất được. Những doanh nghiệp đang hoạt động mặc dù đã mở thêm được những thị trường mới nhưng số lượng và trị giá còn hạn chế. Hạn hán kéo dài, chè bỏ lứa không cho thu hoạch, nguồn cung nguyên liệu giảm mạnh được coi là nguyên nhân đầu tiên làm giảm sản lượng xuất khẩu.
Theo những người trồng chè, sản lượng chè tươi năm nay giảm khoảng 15% so với dự kiến. Hiện đã xảy ra sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp nguyên liệu và sự bùng nổ các nhà máy chế biến chè. Tổng công suất chế biến của tất cả các cơ sở sản xuất đạt gấp hai lần tổng sản lượng nguyên liệu, thậm chí có địa phương nguyên liệu chỉ đáp ứng 30% năng lực chế biến, dẫn đến tình trạng tranh mua nguyên liệu gay gắt.
Thực trạng mất thị trường cũng thể hiện các doanh nghiệp nước ta chưa có chiến lược tìm kiếm thị trường lâu dài, chỉ chạy theo số lượng nhiều hơn là chất lượng. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong một số lô hàng mua thử của Việt
Bốn giải pháp cơ bản
Được biết ngày
Tại Hội nghị đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Quyết định số 43 của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra giải pháp phát triển chè giai đoạn 2006- 2010.
Một là, tiến hành quy hoạch phát triển chè; tăng cường công tác khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật trong sản xuất và chế biến chè.
Hai là, tăng cường công tác hợp tác quốc tế, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ chè.
Ba là, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến chè theo quy hoạch và từng bước hiện đại hóa các cơ sở đã có theo hướng tăng nhanh tỷ lệ các sản phẩm chè tinh chế, đảm bảo đủ công suất chế biến có chất lượng cao và đa dạng hóa sản phẩm.
Cuối cùng, giải pháp cơ bản thứ tư là tổ chức sản xuất lại ngành chè. Bộ giao cho Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Tổng công ty chè xây dựng quy hoạch phát triển sản xuất và chế biến chè trên phạm vi cả nước trong năm 2005; xác định diện tích thích hợp tối ưu cho từng vùng, từng tỉnh. Đồng thời, hướng dẫn các tỉnh có trồng chè quy hoạch các vùng chè tập trung gắn với cơ sở công nghiệp chế biến, tạo nguồn nguyên liệu có chất lượng và chủ động cho các nhà máy.
Bộ yêu cầu Hiệp hội chè, Tổng công ty Chè Việt Nam hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè đẩy mạnh các hoạt động quảng bá sản phẩm; xúc tiến nhanh các hoạt động xây dựng, đăng ký, bảo vệ nhãn mác hàng hóa, mác sản phẩm, thương hiệu...
Ngành chè đã đặt mục tiêu đến năm 2010, tổng khối lượng xuất khẩu chè của cả nước đạt được 120.000 tấn chè có chất lượng, giá trị cao và an toàn vệ sinh thực phẩm, với kim ngạch 200 triệu USD, giải quyết việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, doanh thu bình quân 20 triệu đồng/ha.
TBKTVN







