Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu: Cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tỷ trọng cao trong tổng số doanh nghiệp, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhưng lại có năng lực tài chính hạn chế và dễ bị thách thức trước biến động thị trường.
Trên cơ sở đó, chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho DNNVV trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu đã được cụ thể hóa tại Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội ban hành ngày 17/05/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quy định pháp luật về miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 10 của Nghị quyết 198/2025/QH15: “Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu”.
Nghị quyết này không chỉ là căn cứ pháp lý quan trọng mà còn thể hiện chính sách quan trọng trong việc ưu tiên nguồn lực cho khu vực DNNVV. Để triển khai trên thực tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định 20/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/01/2026 quy định chi tiết về miễn, giảm thuế TNDN đối với DNNVV đăng ký kinh doanh lần đầu, trong đó khoản 3 Điều 7 quy định rõ:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp trước thời điểm Nghị quyết 198/2025/QH15 có hiệu lực thi hành mà còn thời gian áp dụng ưu đãi thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 3 Điều 7 này cho thời gian còn lại.
Ngoài ra, tại Điều 7 Nghị định 20/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ việc ưu đãi thuế TNDN không áp dụng với các trường hợp:
- Doanh nghiệp thành lập mới do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi chủ sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp thành lập mới mà người đại diện theo pháp luật (trừ trường hợp người đại diện theo pháp luật không phải là thành viên góp vốn), thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất đã tham gia hoạt động kinh doanh với vai trò là người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất trong các doanh nghiệp đang hoạt động hoặc đã giải thể nhưng chưa được 12 tháng tính từ thời điểm giải thể doanh nghiệp cũ đến thời điểm thành lập doanh nghiệp mới.
- Thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Căn cứ quy định tại Điều 4 Luật Hỗ trợ DNNVV 2017 và Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
Điều 5. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
2. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Như vậy, DNNVV được phân loại dựa trên các tiêu chí như số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, tổng nguồn vốn và tổng doanh thu, với ngưỡng cụ thể khác nhau tùy theo ngành, lĩnh vực. Các tiêu chí này nhằm bảo đảm rằng ưu đãi thuế tập trung vào đúng đối tượng có quy mô nhỏ và vừa, chưa có tiềm lực tài chính mạnh.
Tác động tích cực đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trước hết, về tài chính giúp giảm gánh nặng chi phí cho DNNVV trong giai đoạn 3 năm đầu hoạt động, khi doanh thu chưa ổn định, chi phí đầu tư ban đầu, chi phí marketing và chi phí quản trị còn rất lớn.
Việc miễn thuế TNDN giúp doanh nghiệp giữ lại phần lợi nhuận ban đầu để tái đầu tư vào sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, miễn thuế TNDN 3 năm giúp doanh nghiệp mới thành lập tăng dòng tiền sử dụng cho các chi phí thuê mặt bằng, chi phí lao động.
Mặt khác, doanh nghiệp được miễn thuế nhưng vẫn hoạt động kinh doanh có lãi sẽ có bảng cân đối tài chính đẹp hơn, từ đó dễ thuyết phục tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay hoặc nâng hạn mức tín dụng. Việc có thêm dòng tiền cũng giúp doanh nghiệp tăng khả năng tự chủ, giảm phụ thuộc vào vốn vay bên ngoài, qua đó giảm rủi ro tài chính.
Về kế hoạch kinh doanh, khi tiếp cận quy định 3 năm đầu không phải nộp thuế TNDN, doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng chiến lược linh hoạt hơn, hoặc đầu tư mạnh cho marketing, nghiên cứu phát triển mà không quá áp lực về nghĩa vụ thuế. Về mặt kinh tế xã hội, khi DNNVV phát triển, số lượng việc làm mới tăng, thu nhập người lao động được cải thiện, qua đó góp phần giảm áp lực an sinh xã hội và kích thích tiêu dùng nội địa.
Như vậy, quy định miễn thuế TNDN 3 năm cho DNNVV kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu là chính sách quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế tư nhân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo tiền đề tài chính đáng kể cho doanh nghiệp trong giai đoạn khởi nghiệp.
ThS. LS. Huỳnh Thị My Hằng (Công ty Luật Anh Sĩ)







