Xuất nhập khẩu Việt Nam cần đổi cách tăng trưởng sau mốc 930 tỷ USD?
Lần đầu vượt 930 tỷ USD và xuất siêu 10 năm liên tiếp, thương mại Việt Nam đang ở một tầm cao mới. Nhưng phía sau con số ấn tượng là những bài toán về cấu trúc, thị trường và nội lực doanh nghiệp chưa dễ giải.
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930.1 tỷ USD, tăng 18.2% so với năm 2024. Cán cân thương mại thặng dư 20 tỷ USD, đánh dấu năm thứ 10 liên tiếp xuất siêu kể từ 2016. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, đây là kết quả đáng chú ý, cho thấy xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực chính của tăng trưởng.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), môi trường thương mại toàn cầu đang thay đổi nhanh và khó dự đoán. Nợ công gia tăng, xung đột địa chính trị, xu hướng bảo hộ và các rào cản kỹ thuật mới khiến rủi ro với xuất khẩu ngày càng lớn.
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng đang làm thay đổi cách tổ chức sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. AI giúp tăng năng suất, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về công nghệ và hàm lượng giá trị trong sản phẩm. Nếu không kịp thích ứng, hàng hóa Việt Nam có thể bị đẩy xuống các khâu có giá trị thấp.
Một vấn đề khác là tính bền vững. Khu vực FDI hiện chiếm gần 70% kim ngạch xuất khẩu. Nhiều ngành chủ lực vẫn phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu. Điều này khiến sản xuất dễ bị tác động khi chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy hoặc chính sách thuế, tiêu chuẩn thay đổi.
Về cơ cấu mặt hàng, nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo hiện chiếm khoảng 85% kim ngạch xuất khẩu, trong khi 90% kim ngạch nhập khẩu là nguyên liệu, linh kiện, bán thành phẩm phục vụ sản xuất. Sự chuyển dịch này tích cực, nhưng cũng cho thấy Việt Nam vẫn đứng nhiều ở khâu gia công, lắp ráp.
Ở các ngành như dệt may, da giày, Việt Nam chưa chủ động được nguyên liệu, thiết kế, thương hiệu và hệ thống phân phối. Ảnh: Báo Chính phủ
|
Ở các ngành như dệt may, da giày, doanh nghiệp trong nước chưa chủ động được nguyên liệu, thiết kế, thương hiệu và hệ thống phân phối. Phần lớn vẫn làm theo đơn đặt hàng của nhãn hiệu nước ngoài, giá trị gia tăng thấp. Cơ cấu thị trường cũng chưa cân đối khi Hoa Kỳ chiếm khoảng 1/3 kim ngạch xuất khẩu, còn Trung Quốc chiếm khoảng 40% kim ngạch nhập khẩu, làm tăng mức độ phụ thuộc.
Bài toán nội lực thể hiện rõ ở ngành cà phê. Theo ông Lê Đức Huy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, dù kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 8 tỷ USD, phần lớn vẫn dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế. Tỷ lệ chế biến sâu còn hạn chế, trong khi dư địa tăng giá trị rất lớn.
Tại Đắk Lắk - vùng sản xuất cà phê lớn nhất cả nước - vẫn thiếu nhà máy chế biến quy mô lớn do hạn chế hạ tầng và thiếu khu, cụm công nghiệp chuyên biệt. Logistics chưa đồng bộ khiến doanh nghiệp phải xuất khẩu nhanh trong vụ thu hoạch, chủ yếu dưới dạng thô vì thiếu kho dự trữ và bảo quản dài hạn.
Nếu hình thành được hệ thống kho bãi, kho lạnh và khu công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, doanh nghiệp có thể chủ động thời điểm bán hàng, tăng khả năng đàm phán và đẩy mạnh chế biến sâu. Điều này không chỉ giúp nâng giá trị cà phê mà còn áp dụng được với nhiều nông sản khác như chuối, sầu riêng, rau quả.
Sau mốc 930 tỷ USD, câu hỏi đặt ra không còn là tăng bao nhiêu, mà là tăng như thế nào. Khi tăng trưởng đã đạt quy mô lớn, yêu cầu chuyển sang chiều sâu - nâng hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng, tỷ lệ nội địa hóa và sức cạnh tranh thương hiệu - trở nên cấp thiết.
Nếu không cải thiện nội lực doanh nghiệp, đa dạng hóa thị trường và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030 sẽ khó đạt được một cách bền vững.
Tử Kính (Theo Báo Chính phủ)







